SẢN XUẤT & TIÊU DÙNG

Dẻo thơm “hạt ngọc Trời ban”

Facebook Share

BNEWS.VNTrong tiết trời se lạnh, được thưởng thức món xôi “Trời ban” kèm với món cá nướng trên bếp củi rực hồng thơm phưng phức thì thật mãn nguyện!

Đặc sản dùng để thết đãi khách quý 

Nằm cách đèo Khau Phạ (Cổng Trời – khau là cao, phạ là trời theo tiếng Thái) - một trong tứ đại đỉnh đèo hùng vĩ nhất dải non song từ Bắc chí Nam – chừng 20 cây số là xã Tú Lệ thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; nơi có sản vật thơm ngon nổi tiếng nếp Tú Lệ còn được bà con địa phương gọi là Khẩu Nua Mường Lùng hay Nếp Tan, mà trước kia luôn được dùng làm cống vật để tiến vua và các quan lại phong kiến. 

Truyền thuyết xưa kể rằng, tổ tiên người Thái được tiên ban cho giống nếp quý kèm theo lời dặn tìm nơi đất tốt để gieo trồng thì mới cho gạo dẻo, thơm, ngon. Vâng lời tiên dạy, tổ tiên người Thái đã đi khắp vùng Tây Bắc, hễ thấy nơi nào đất tốt thì gieo trồng thử nhưng đều không được như ý.

Chỉ khi đến chân đèo Khau Phạ, thấy dòng nước mát thơm của con suối Nậm Lung và đất đai thung lũng Tú Lệ màu mỡ thì giống lúa tiên khi gặp được đất của trời mới “khoe” hết đặc tính quý hiếm của mình ra.

Giống lúa tiên - nếp Tú Lệ. Ảnh: Phạm Quỳnh

Trong thung lũng Tú Lệ, lúa nếp Tú Lệ được gieo trồng ở bản Phạ trên (Trời cao) và Phạ dưới (Trời thấp) là cho chất lượng thơm ngon nhất. Do được nuôi dưỡng trên những cánh đồng màu mỡ của Phạ (Trời), nên nếp Tú Lệ có nhiều đặc tính hiếm quý là cơm ngon, dẻo lâu, vị đậm, ngậy, đặc biệt cơm xôi có hương thơm ngào ngạt mang đặc trưng riêng của mảnh đất Mường Trời.

Bởi vậy, đã từ bao đời nay nếp Tú Lệ được đồng bào người Thái nơi đây nâng niu, gìn giữ như “hạt ngọc Trời ban”; chỉ được đem ra dùng để thết đãi khách quý, hoặc trong những dịp cúng, lễ đặc biệt.

Nếp Tú Lệ là giống lúa dài ngày (140 – 145 ngày), cây cao, hạt thóc có râu màu đen, hạt gạo tròn, trắng trong, ít bạc bụng; khả năng sinh trưởng của của lúa nếp Tú Lệ rất phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng địa phương, chịu được chua và khả năng chống chịu sâu bệnh khá.

Đồ xôi mời khách quý. Ảnh: Phạm Quỳnh

Theo đề tài nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, yếu tố chính làm nên sự diệu kỳ của chất lượng nếp Tú Lệ là bởi: Nguồn gien quý hiếm; thổ nhưỡng của xã Tú Lệ có tính đặc thù hơn hẳn so với các xã lân cận như nước tưới có hàm lượng ion cao gấp 3 lần, lượng các nguyên tố khoáng K+, Na+, Ca2+, Mg2+ đều cao gấp 2 lần.

Ngoài ra, các yếu tố về tập quán canh tác như chỉ bón phân chuồng, phân xanh, không dùng phân vô cơ, làm cỏ duy nhất một lần sau cấy 30 ngày; sau khi gặt, lúa còn nguyên rạ được phơi tại ruộng 2- 3 ngày, được đánh đống ngoài đồng và đập dần; gạo được giã bằng cối gió, cối nước... cũng cho chất lượng thơm ngon hơn. 

Xói lở và sa mạc hóa nhiều chân ruộng màu mỡ?

Những năm trở lại đây, do chạy theo năng suất, người dân địa phương đã đưa một số giống lúa mới vào gieo cấy cận kề những thửa lúa nếp Tú Lệ, gây nên hiện tượng lai tạp thụ phấn tự nhiên và lai tạp cơ giới, làm cho chất lượng nếp Tú Lệ đứng trước nguy cơ suy giảm. 

Trước đây, nếp Tú Lệ được gieo trồng trên toàn bộ diện tích của thung lũng Tú Lệ (khoảng 161 ha), nhưng hiện nay diện tích canh tác đã thu hẹp và phân tán chỉ còn khoảng 80 ha do sự du nhập các giống lúa mới có trợ giá cước của Nhà nước.

Hơn nữa, mấy năm gần đây do tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu môi trường, lũ quét trở nên hung dữ đã làm xói lở nhiều chân ruộng màu mỡ và sa mạc hóa chừng 20 ha đất cấy lúa nếp Tú Lệ chạy dọc con suối Nậm Lung.

Vào mùa lũ, con suối Nậm Lung trở nên hung dữ làm xói lở nhiều chân ruộng màu mỡ và sa mạc hóa chừng 20 ha đất cấy lúa nếp Tú Lệ. Ảnh: Phạm Quỳnh

Ông Hồ Đức Hợp (Chủ tịch UBND huyện Văn Chấn) chia sẻ, mong muốn cấp thiết của địa phương là sớm được xây dựng tuyến kè ở những điểm xung yếu dọc suối Nậm Lung vừa để ngăn ngừa sản lượng giảm sút, chống xói lở và sa mạc hóa, vừa để ổn định đời sống dân sinh.

Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng khuyến khích, hỗ trợ bà con làm du lịch cộng đồng để gia tăng giá trị cho nông sản trong đó có nếp Tú Lệ.

Nói đến Tú Lệ huyện Văn Chấn, không thể không nhắc đến nếp Tú Lệ. Từ nhiều năm nay nếp Tú Lệ đã trở thành sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, không đủ cung cấp ra thị trường. Giá thóc nếp Tú Lệ thường xuyên cao gấp 3 lần so với thóc tẻ cùng vụ, thường đầu vụ khoảng 20.000đ/kg thóc (35.000đ/kg gạo), giáp tết Nguyên Đán khoảng 25.000đ/kg thóc  (45.000đ/kg gạo). 

Tuy có giá trị kinh tế cao, nhưng có tới 70% lượng thóc được bán ngay sau khi thu hoạch với giá chỉ bằng 60% giá cuối năm. Điều này đã làm giảm đáng kể thu nhập cho bà con nông dân sản xuất – ông Lò Văn Thức (Chủ tịch UBND xã Tú Lệ) cho biết.

Ngoài tác nhân làm chất lượng nếp Tú Lệ đứng trước nguy cơ suy giảm do lai tạp cơ giới và lai tạp thụ phấn tự nhiên, thì các nguyên nhân khác như kỹ thuật chế biến, thời gian bảo quản, trà trộn nhiều sản phẩm mang danh nếp Tú Lệ,…là những “lực cản” làm ảnh hưởng đến uy tín nhãn hiệu “Nếp tan Tú Lệ” do Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho Hội Nông dân xã Tú Lệ năm 2008.

Bảo tồn, phát triển chất lượng giống “lúa tiên” 

Với lợi thế vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào, có kinh nghiệm trong sản xuất cộng với điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp, huyện Văn Chấn xác định việc bảo tồn, phát triển cây lúa nếp Tú lệ là một trong thế mạnh của xã Tú Lệ để cải thiện kinh tế hộ gia đình trồng lúa một cách bền vững.

Để khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh cây lúa nếp Tú Lệ, hiện nay chính quyền huyện Văn Chấn đang tập trung huy động các nguồn lực để  đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cấp mương phai thủy lợi bảo đảm ổn định nước tưới tiêu cho cánh đồng, phát triển giao thông nội đồng, quy hoạch vùng sản xuất tập trung, và đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn chất lượng của nguồn giống bản địa. 

Thủy lợi nội đồng được đầu tư kiên cố. Ảnh: Phạm Quỳnh

Được biết, huyện Văn Chấn đang triển khai Đề án “Quy hoạch và Phát triển vùng đặc sản lúa nếp Tú Lệ, xã Tú Lệ huyện Văn Chấn giai đoạn 2016-2020”. Theo đó, đến năm 2020 xã Tú Lệ có 100 ha vùng sản xuất lúa nếp Tú Lệ tập trung, áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; hình thành một đến hai cơ sở thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nếp Tú Lệ trên địa bàn huyện.

Để bảo đảm nguồn giống nguyên chủng phục vụ cho sản xuất tập trung, vụ mùa 2017, huyện sẽ phối hợp với Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi tỉnh Yên Bái sản xuất 02 ha giống nếp Tú Lệ nguyên chủng từ nguồn giống siêu nguyên chủng, phục vụ sản xuất tập trung 100 ha vào vụ mùa năm 2018.

Đồng thời, hoàn thiện hồ sơ xin gia hạn nhãn hiệu “ Nếp tan Tú Lệ” đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp để có địa chỉ cung ứng sản phẩm nếp Tú Lệ chính hiệu ra thị trường, lấy lại uy tín cho sản phẩm. 

Du lịch mùa cốm nếp Tú Lệ

Du khách kéo về Tú Lệ tấp nập. Ảnh: Phạm Quỳnh

Đi đôi với việc bảo tồn, phát triển chất lượng giống “lúa tiên”, chính quyền huyện Văn Chấn và xã Tú Lệ cũng khuyến khích, hỗ trợ bà con làm du lịch cộng động. Đây là hướng đi căn cơ nhằm đánh thức tiềm năng du lịch, góp phần nâng cao đời sống, việc làm, thu nhập và gìn giữ được lâu bền hương vị dẻo thơm của “hạt ngọc Trời ban” cho Tú Lệ.

Được tạo hóa ban cho nếp Tú Lệ, suối nước nóng, những ngôi nhà sàn thơ mộng nhìn ra cánh đồng vàng óng vào mùa lúa chín, xa xa là những dãy núi mờ sương, cùng những tấm lòng thân thiện, mến khách và các món ăn mang đậm sắc thái vùng cao Tây Bắc…

Mấy năm gần đây, xã Tú Lệ đã trở thành điểm dừng chân lý tưởng cho du khách và “phượt thủ” sau khi tham gia lễ hội xòe Nghĩa Lộ cũng như trước khi chinh phục đỉnh đèo Khau Phạ và thăm danh thắng ruộng bậc thang Mù Căng Chải.

Khi đất trời Tây Bắc chớm lạnh cũng là lúc xã Tú Lệ luôn ngạt ngào hương cốm nếp, tiếng chầy giã cốm thậm thình của những thiếu nữ Thái cũng làm giăng mắc bao bước chân du khách.

Trong tiết trời se lạnh, sau khi tắm suối nước nóng cùng bà con dân bản cuối ngày làm đồng về, bạn nhớ dừng chân ở một ngôi nhà sàn và thưởng thức món xôi “Trời ban” kèm với món cá nướng trên bếp củi rực hồng thơm phưng phức thì sẽ thấy cuộc đời mình mãn nguyện lắm rồi.

Rời xa Tú Lệ, mà hương nếp cốm thơm, tiếng chầy thậm thình, nụ cười thiếu nữ giòn tan bên suối nước nóng cùng câu hát “…xôi nếp dẻo, cá nướng thơm, em chờ anh đi quăng chài về…” như còn vương vấn, giục giã du khách hẹn ngày trở lại./.

Phạm Quỳnh

BẢNG GIÁ VÀNG (BẢO TÍN MINH CHÂU)
VIDEO

Nợ công Việt Nam đang tăng nhanh với áp lực trả nợ lớn. Để đảm bảo an toàn hệ thống tài chính quốc gia và tăng trưởng bền vững kinh tế vĩ mô, ngày 18/11, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TƯ về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công.