THỜI SỰ

Việt Nam – Hàn Quốc bàn giải pháp thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư

Facebook Share

BNEWS.VNSáng 22/9, tại Hà Nội, đã diễn ra Kỳ họp lần thứ 15 Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam – Hàn Quốc giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hàn Quốc.

Việt Nam – Hàn Quốc bàn giải pháp thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư. Ảnh: Thúy Hiền/BNEWS/TTXVN

Phát biểu tại kỳ họp, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nguyễn Thế Phương cho biết, mục tiêu của kỳ họp lần này là rà soát tình hình hợp tác giữa 2 nước trong các lĩnh vực từ Kỳ họp lần thứ 14 tháng 7/2015 tới nay; đồng thời, đề ra phương hướng hợp tác trong thời gian tới.

Cụ thể, hai bên đã trao đổi về tình hình và giải pháp thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực: thương mại, đầu tư, hợp tác phát triển, lao động, môi trường, đất đai, năng lượng, cơ sở hạ tầng, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài chính- ngân hàng… và tham gia của hai nước trong các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hàn Quốc, ông Lee Tae – ho nhấn mạnh, Việt Nam là đối tác hàng đầu được Hàn Quốc cung cấp ODA. Từ năm 2014, Hàn Quốc trở thành đối tác đứng đầu Việt Nam với phạm vi hợp tác không chỉ kinh tế mà còn văn hóa, chính trị.

Đối với viện trợ không hoàn lại, từ năm 1993 tới nay, Hàn Quốc đã cấp cho Việt Nam hơn 200 triệu USD chủ yếu qua phương thức dự án truyền thống cho các lĩnh vực: cải cách hành chính; phát triển nguồn nhân lực; biến đổi khí hậu; xóa đói giảm nghèo; công nghệ thông tin; khoa học công nghệ; phát triển đô thị…

Đối với vốn vay ưu đãi, tới nay Hàn Quốc đã cam kết cung cấp cho Việt Nam gần 3 tỷ USD, chủ yếu trong lĩnh vực giao thông, y tế, cấp thoát nước.

Hiện nay, hai bên đang đàm phán để ký kết Hiệp định tín dụng khung cho giai đoạn 2016-2020 với quy mô dự kiến khoảng 1,5 tỷ USD. Ngoài viện trợ theo kênh thông thường, hai bên còn triển khai hợp tác tài chính với tổng quy mô vốn 12 tỷ USD từ các nguồn tín dụng khác nhau.

Về hợp tác đầu tư, Hàn Quốc là một trong những nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam . Tính đến nay, Hàn Quốc có khoảng 5.500 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 50 tỷ USD, đứng thứ nhất trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.

Doanh nghiệp FDI Hàn Quốc là thành phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, sử dụng khoảng 700 nghìn lao động và đóng góp khoảng 30% tổng giá trị xuất khẩu Việt Nam. FDI của Hàn Quốc chủ yếu thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo và chiếm 84% tổng vốn đăng ký; xây dựng; kinh doanh bất động sản…

Trong khi đó, Việt Nam có 19 dự án đầu tư sang Hàn Quốc với tổng vốn đầu tư 14,4 triệu USD. Các dự án đều có quy mô nhỏ chủ yếu trên lĩnh vực dịch vụ, thương mại.

Về hợp tác thương mại, Hàn Quốc có vị trí quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam . Hai nước đã ký Hiệp định Thương mại tự do song phương năm 2015 và mục tiêu phấn đấu trao đổi thương mại 70 tỷ USD vào năm 2020.

Năm 2015, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam (sau Trung Quốc và Hoa Kỳ) với tổng kim ngạch giữa 2 nước đạt 36,6 tỷ USD; trong đó, Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt giá trị 8,9 tỷ USD, nhập khẩu là 27,6 tỷ USD.

Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Hàn Quốc là hàng điện tử; điện thoại; vải; nguyên liệu; sắt thép; máy móc thiết bị… Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc chủ yếu là sản phẩm dệt may và sợi, thủy sản, dầu thô, phương tiện vận tải, gỗ và sản phẩm gỗ…

Về hợp tác lao động, Hàn Quốc là một trong những thị trường xuất khẩu lao động trọng điểm của Việt Nam . Việt Nam đã đưa sang Hàn Quốc khoảng 54.000 lao động.

Tại kỳ họp, bên cạnh những lĩnh vực lớn, hai nước cũng trao đổi về các hoạt động hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác như năng lượng, xây dựng, phát triển hạ tầng, tài chính – ngân hàng, nông nghiệp, tài nguyên môi trường, khoa học công nghệ …/.

Thúy Hiền/BNEWS/TTXVN

BẢNG GIÁ VÀNG (BẢO TÍN MINH CHÂU)
VIDEO

Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp vừa có văn bản kết luận việc kiểm tra Thông tư 58 của Bộ Giao thông Vận tải về quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ. Theo Cục này, quy định bắt buộc đổi GPLX sang vật liệu PET của Bộ GTVT là không có cơ sở pháp lý và tính thống nhất.