Bàn giải pháp vận hành hệ thống điện mùa khô 2026

12:13' - 17/03/2026
BNEWS Sáng 17/3, Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) tổ chức hội thảo “Trao đổi kinh nghiệm chuẩn bị công tác vận hành mùa khô năm 2026”.

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng Giám đốc NSMO cho biết, mỗi năm việc vận hành hệ thống điện đều phải giải một bài toán khác nhau, không năm nào giống năm nào. Chẳng hạn, năm 2023 là bài toán thiếu điện; năm 2024 chịu ảnh hưởng của bão Yagi; còn năm 2025 ghi nhận tới 15 cơn bão cùng 4 hoàn lưu tác động đến nước ta.

Với năm 2026, hệ thống điện đang đối mặt với những thách thức mới. Về nhu cầu phụ tải, dự báo tăng khoảng 8% và thực tế các tháng đầu năm vẫn bám sát kịch bản này. Tuy nhiên, một tín hiệu đáng lo ngại là trong dịp Tết vừa qua, khi phụ tải công nghiệp giảm do nghỉ Tết thì phụ tải sinh hoạt lại tăng tới 10%. Điều này đặt ra áp lực lớn trong thời gian nắng nóng sắp tới; nếu nắng nóng kéo dài 6 - 7 ngày liên tiếp, công tác vận hành sẽ rất vất vả. Theo thông tin từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia và các chuyên gia, nắng nóng tiếp tục là thách thức lớn trong việc đảm bảo cung ứng điện, đặc biệt tại khu vực miền Bắc.

Ở phía nguồn cung, hệ thống hiện có các loại hình như nhiệt điện than, tuabin khí, thủy điện và các nguồn nhỏ khác, bao gồm năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió). Riêng nhiệt điện than năm nay phải đối mặt với hai thách thức lớn. Thứ nhất, các tiêu chuẩn môi trường được nâng cao theo quy định hiện hành, buộc một số nhà máy phải cải tạo. NSMO đã phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam sắp xếp kế hoạch sửa chữa, song phần lớn chỉ có thể thực hiện sau mùa khô 2026. Trong thời gian từ nay đến hết mùa khô, vẫn có khả năng một số nhà máy phải dừng vận hành do yêu cầu môi trường. Bên cạnh đó, với các quy định ngày càng nghiêm ngặt, từ nay đến năm 2031 sẽ phải tách dần các tổ máy để nâng cấp, trong khi tỷ trọng nhiệt điện than vẫn chiếm lớn, tạo thêm áp lực trong bối cảnh nguồn điện mới có thể chưa bù đắp được kịp thời.

 

Ngoài ra, nhiệt điện than và tuabin khí đều đang chịu áp lực lớn về nguồn nhiên liệu. Xung đột Trung Đông đẩy giá nhiên liệu tăng mạnh, đặc biệt khi eo biển Hormuz bị ảnh hưởng. Các nhà máy gặp khó khăn trong tiếp nhận than, trong khi một số quốc gia xuất khẩu có xu hướng hạn chế nguồn cung. Đối với điện khí, nguồn khí tự nhiên trong nước đang suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp tới các nhà máy, nhất là tại khu vực Đông Nam Bộ, qua đó tác động đến việc cung cấp điện cho Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) và Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh nguồn LNG và khí trong nước suy giảm, khu vực miền Nam có thể đối mặt với khó khăn về cung cấp điện vào buổi tối. Ban ngày, điện mặt trời và điện gió vẫn hỗ trợ tương đối tốt, nhưng khi các nguồn này không còn vào buổi tối, hệ thống sẽ chịu áp lực lớn hơn. Những khó khăn này có thể chưa rõ nét trong năm 2026 nhưng có khả năng xuất hiện rõ hơn vào giai đoạn 2027 - 2028. Đây cũng là bài toán mà các đơn vị như Tổng Công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội (EVNHANOI) và EVNSPC cần tính đến. Trong bối cảnh đó, các giải pháp đã được đặt ra từ sớm, trong đó có hội thảo lần này.

Về công tác vận hành, sự phối hợp giữa các cấp điều độ, các đơn vị truyền tải, phân phối và các nhà máy điện vẫn được thực hiện chặt chẽ. Tuy nhiên, hệ thống hiện có khoảng 21.000 MW năng lượng tái tạo; trong đó, một nửa là nguồn phân tán phía phụ tải. Điều này làm thay đổi cách thức vận hành so với trước đây, khi hệ thống chủ yếu dựa vào các nguồn lớn, ổn định như than và khí. Hiện nay, bài toán đặt ra là điều hành hiệu quả các nguồn phân tán, với hơn 125.000 hệ thống điện mặt trời mái nhà theo thống kê gần nhất của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Việc trang bị hệ thống SCADA đến từng nguồn nhỏ là không khả thi về chi phí và kỹ thuật; đồng thời cũng không thể tập trung quyền điều khiển đối với các nguồn này, trong khi tính bất định trong vận hành lại lớn. Trong khi đó, hệ thống vẫn phải đảm bảo vận hành ổn định. Đây không chỉ là bài toán của Việt Nam mà còn là thách thức chung của nhiều hệ thống điện trên thế giới khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cao.

Do đó, NSMO đang tích cực nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời xây dựng các cơ chế mới để theo dõi, nắm bắt diễn biến của các nguồn phân tán trên hệ thống, từ đó có phương thức điều hành phù hợp. Hội thảo lần này là tiền đề để NSMO tiếp tục tổ chức các hội thảo quốc tế với sự tham gia của chuyên gia quốc tế, nhằm chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm giải pháp hiệu quả. Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm dòng điện được vận hành thông suốt từ nhà máy đến khách hàng, góp phần giữ vững an ninh năng lượng, Phó Tổng Giám đốc NSMO Nguyễn Quốc Trung chia sẻ tại hội thảo.

Phát biểu tại hội thảo, ông Huỳnh Quang Thịnh, Phó Giám đốc Công ty Truyền tải điện 3 (PTC3) cho biết, đơn vị hiện quản lý vận hành lưới điện truyền tải trên địa bàn 4 tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng, với 6 trạm biến áp 500kV, 22 trạm biến áp 220kV và hơn 6.000 km đường dây các cấp điện áp. Tổng công suất các nhà máy điện đấu nối vào lưới đạt trên 17.280 MW; trong đó, riêng năng lượng tái tạo chiếm khoảng 6.900 MW với 75 nhà máy.

Tỷ trọng lớn của các nguồn năng lượng tái tạo đặt ra nhiều thách thức trong vận hành lưới điện truyền tải. Việc giải tỏa công suất từ các nhà máy điện mặt trời, điện gió khiến hệ thống thường xuyên phải vận hành trong các phương thức không cơ bản, tiềm ẩn nguy cơ quá tải ở một số đường dây và máy biến áp. Bên cạnh đó, việc sửa chữa, bảo dưỡng phần lớn phải thực hiện vào ban đêm để ưu tiên giải tỏa công suất vào ban ngày.

Để đảm bảo cung cấp điện an toàn, liên tục trong mùa khô, PTC3 đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Các đơn vị lập và duyệt phương án ngăn ngừa sự cố chi tiết cho từng đường dây, trạm biến áp; xây dựng kịch bản vận hành theo từng tình huống; tổ chức diễn tập xử lý sự cố và phòng chống thiên tai.

Việc vệ sinh, bảo dưỡng thiết bị được đẩy nhanh và hoàn thành trước cao điểm mùa khô nhằm hạn chế tối đa sự cố khi hệ thống mang tải cao. Đồng thời, đơn vị tập trung xử lý các tồn tại, bất thường trên lưới, chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng để sẵn sàng ứng phó khi có sự cố.

PTC3 cũng duy trì phối hợp chặt chẽ với các cấp điều độ trong xây dựng và điều chỉnh phương thức vận hành hệ thống điện, bảo đảm các thiết bị vận hành trong giới hạn cho phép. Đối với các trạm và đường dây thường xuyên mang tải cao, các bên chủ động trao đổi thông tin, điều chỉnh phương thức linh hoạt nhằm hạn chế quá tải kéo dài.

Trong điều hành, việc đăng ký và giải quyết cắt điện được thực hiện theo kế hoạch, hạn chế tối đa cắt điện đột xuất. Các hạng mục sửa chữa, thí nghiệm và đầu tư xây dựng được kết hợp thực hiện trong cùng một lần cắt điện nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến vận hành hệ thống.

Bên cạnh đó, PTC3 và các đơn vị điều độ tăng cường phối hợp trong kiểm soát, chỉnh định hệ thống rơ le bảo vệ, cũng như vận hành hệ thống SCADA-EMS, góp phần nâng cao độ tin cậy trong giám sát và điều hành lưới điện.

Đơn vị cũng đang xây dựng các dự án nâng cao chất lượng tín hiệu SCADA, hướng tới hoàn thiện kết nối và bảo đảm dự phòng, phục vụ hiệu quả công tác điều độ hệ thống điện.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả vận hành, Phó Giám đốc PTC3 Huỳnh Quang Thịnh kiến nghị các cấp điều độ hỗ trợ tính toán, phân bố công suất hợp lý nhằm giảm tổn thất điện năng trên lưới truyền tải; đồng thời phối hợp đẩy nhanh tiến độ các kế hoạch cắt điện phục vụ sửa chữa trước cao điểm mùa khô.

Ngoài ra, PTC3 đề nghị hỗ trợ triển khai thử nghiệm thao tác xa tại các trạm biến áp 500kV trọng điểm như Pleiku 2, Di Linh và Vân Phong, góp phần hiện đại hóa công tác vận hành lưới điện.

Với việc chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp và tăng cường phối hợp giữa các đơn vị, PTC3 đặt mục tiêu đảm bảo vận hành lưới điện truyền tải an toàn, tin cậy, đáp ứng nhu cầu điện trong mùa khô năm 2026.

Tại hội nghị, đại diện EVNSPC cho biết, trong tháng tới cần triển khai các giải pháp mang tính trọng tâm. Trước hết, việc dự báo cần được bám sát, cập nhật kịp thời và rà soát thường xuyên, đặc biệt trong bối cảnh gia tăng các nguồn điện phân tán. Đồng thời, cần tập trung điều phối điện mặt trời mái nhà tại các khu vực có mật độ cao, kiểm soát chặt chẽ số liệu và các mô hình liên quan.

EVNSPC cũng khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ trong vận hành theo lệnh điều độ của NSMO, sẵn sàng đáp ứng các chỉ đạo từ EVN. Đối với các công trình lưới điện phục vụ mùa khô, đơn vị sẽ tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục