Cấp thiết chống xói lở bờ biển ở TP. Hồ Chí Minh

12:11' - 14/04/2026
BNEWS TP. Hồ Chí Minh – đô thị ven biển mới sau khi hợp nhất đang sở hữu đường bờ biển dài hơn 300 km, một lợi thế lớn để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là du lịch, dịch vụ và khai thác thủy sản.

Tuy nhiên, đi cùng với tiềm năng là một thách thức ngày càng rõ nét: tình trạng xói lở, xâm thực bờ biển đang diễn ra nhanh và mạnh, đe dọa trực tiếp đến môi trường sinh thái, hạ tầng và đời sống người dân.

 

Báo động tình trạng biển “ăn” đất liền

Những năm gần đây, dọc tuyến bờ biển từ xã Bình Châu, Hồ Tràm, Phước Hải, Long Hải đến Vũng Tàu, một thực tế đáng lo ngại đang diễn ra: biển từng ngày lấn sâu vào đất liền. Theo các cơ quan chuyên môn, từ tháng 4 đến tháng 12 hàng năm là thời điểm xâm thực diễn ra mạnh nhất, đặc biệt tại các “điểm nóng” như Bình Châu, Hồ Tràm, Phước Hải, Phước Thắng.

So với dữ liệu địa chính của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cũ từ cuối những năm 1990, nhiều khu vực đã bị biển lấn từ 20–40 m, cá biệt có nơi lên tới 80–100 m. Điều này không chỉ phản ánh mức độ nghiêm trọng của xói lở mà còn cho thấy xu hướng gia tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây.

Chia sẻ với nỗi lo thường trực, ông Nguyễn Anh Quốc, người dân sống lâu năm ở xã Bình Châu, cho biết: “Trước đây, từ hàng phi lao xuống bãi tắm ở Bình Châu phải đi hàng chục mét, giờ nước đã dâng lên sát rừng. Mỗi mùa mưa bão, sóng đánh ầm ầm, đất trôi đi từng khoảnh, khiến người dân sống gần khu vực này rất hoang mang”.

Không chỉ tại Bình Châu, tình trạng tương tự cũng diễn ra ở nhiều địa phương khác. Tại khu vực Trại Nhái, phường Phước Thắng ông Trần Cừ – người gắn bó với vùng biển gần 30 năm cho biết, trước đây biển cách nhà hơn 1 km, còn nay chỉ cần vài bước chân là đã chạm nước. Chỉ trong vài năm, sóng đã cuốn đi hàng trăm mét vuông đất, người dân bất lực nhìn.

Những cánh rừng dương tại khu vực Trại Nhái từng đóng vai trò “lá chắn xanh” nay dần biến mất, nhường chỗ cho những bờ cát dựng đứng, trơ rễ cây, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở bất cứ lúc nào. Nhiều khu dân cư buộc phải di dời, nhiều hộ dân không còn dám sinh sống gần biển.

Không chỉ gây tác động đến môi trường tự nhiên, xói lở còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế, đặc biệt là ngành du lịch – lĩnh vực mũi nhọn của khu vực ven biển.

Hiện nay, dải ven biển từ Vũng Tàu đến Bình Châu có khoảng 150 dự án du lịch lớn nhỏ, trong đó nhiều dự án có quy mô hàng tỷ USD. Tuy nhiên, nhiều khu vực đang bị xói lở nặng, khiến hàng chục đến hàng trăm hecta đất bị cuốn trôi.

Anh Hồ Anh Duy, chủ Khu du lịch Bãi Trúc Vân (xã Hồ Tràm) chia sẻ: “Ba căn nhà hai tầng kiên cố khu du lịch của tôi bị sóng đánh sập chỉ trong một đêm. Hai năm qua, biển cuốn trôi hàng chục mét bãi cát, khu vực từng là sân chơi, nhà hàng giờ chỉ còn những bãi cát trải dài”.

Tại khu vực Lộc An, xã Phước Hải ông Nguyễn Văn Ngọc ví von: “Sóng biển như loài gặm nhấm khổng lồ, mỗi ngày lấy đi một ít, đến khi nhìn lại thì đụn cát đã biến mất, rừng dương cũng bật gốc chết hết.”

Không dừng lại ở đó, hệ thống hạ tầng giao thông ven biển cũng đang bị đe dọa. Tuyến đường ven biển – vốn cách mép nước hàng chục đến hàng trăm mét – nay nhiều đoạn sóng đã đánh sát chân đường, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở và gián đoạn giao thông.

Cần lá chắn tổng thể

Trước tình trạng xói lở ngày càng nghiêm trọng, người dân và doanh nghiệp đã chủ động triển khai nhiều biện pháp nhằm giữ đất, từ bao cát, rọ đá đến kè mềm, kè bê tông kiên cố. Tuy nhiên, hiệu quả của các giải pháp này vẫn còn hạn chế.

Theo các chuyên gia, các công trình kè tại khu vực ven biển của TP. Hồ Chí Minh đến nay không đồng bộ, kiểu mạnh ai nấy làm.  Kè cứng tuy có khả năng bảo vệ trực tiếp nhưng lại gây xói chân kè, làm hạ thấp bãi phía trước và phá vỡ cân bằng tự nhiên của bờ biển. Trong khi đó, các giải pháp kè mềm như túi Geotube chỉ mang tính tạm thời, dễ bị hư hỏng dưới tác động của sóng lớn, tuổi thọ không cao.

Thực tế cho thấy, nhiều công trình đã xuống cấp sau thời gian ngắn, bãi biển tiếp tục bị thu hẹp, thậm chí biến mất hoàn toàn, ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan và hoạt động du lịch. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp công nghệ mới đang được xem là hướng đi tất yếu. Từ năm 2017, Công ty cổ phần Khoa học - Công nghệ Việt Nam (BUSADCO) đã triển khai thí điểm công nghệ cấu kiện lắp ghép bê tông cốt sợi phi kim trong bảo vệ bờ sông và bờ biển.

Các công trình thí điểm tại sông Dinh và khu vực biển Hồ Cốc đã được nghiệm thu, đưa vào sử dụng từ năm 2020 và bước đầu cho thấy hiệu quả trong việc ổn định bờ, giảm xói lở.

Hiện nay, công nghệ này tiếp tục được mở rộng tại nhiều khu vực như Bình Châu, sông Ray, Lộc An, Long Hải… với các hạng mục kè phá sóng xa bờ, tạo bãi bồi. Sau nhiều năm vận hành, các công trình vẫn duy trì hiệu quả chắn sóng, góp phần ổn định đường bờ.

Theo ông Hoàng Đức Thảo, Chủ tịch HĐQT BUSADCO, công nghệ bê tông cốt phi kim không chỉ có chức năng bảo vệ mà còn có khả năng gây bồi, tạo bãi và thiết lập trạng thái cân bằng tự nhiên. Hệ thống cấu kiện lắp ghép có thể tự thích ứng với dòng chảy, giúp giảm dòng xoáy và ổn định khu vực xói lở.

Tại hội thảo “Ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ trong xây dựng công trình thủy lợi và phòng chống thiên tai” tổ chức mới đây tại TP. Hồ Chí Minh, các chuyên gia đã thống nhất rằng cần chuyển đổi tư duy ứng dụng các công nghệ chống xói lở bờ biển vùng ven viển thành phố từ “xử lý điểm” sang “giải pháp tổng thể”.

Ông Đỗ Hoài Nam, đại diện Viện Kỹ thuật Biển, đề xuất mô hình “đa tầng xanh” trong bảo vệ bờ biển. Theo đó, hệ thống phòng chống xói lở được tổ chức theo nhiều lớp: lớp ngoài là công trình giảm sóng; lớp giữa là khu vực bãi cát được nuôi bồi; lớp trong là hệ thống bảo vệ bờ kết hợp thảm thực vật sinh thái. Mô hình này không chỉ giúp giảm xói lở mà còn duy trì hệ sinh thái và tạo điều kiện phát triển du lịch bền vững.

Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Xuân Hoàng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, cho rằng công tác quản lý khu vực ven biển hiện vẫn còn nhiều bất cập do thiếu quy hoạch tổng thể.

Theo ông, việc mỗi doanh nghiệp triển khai dự án theo cách riêng, trong khi chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, dẫn đến khó kiểm soát tổng thể các yếu tố thủy văn, dòng chảy và tác động của gió mùa. Từ thực tế này, ông Nguyễn Xuân Hoàng cho biết sẽ kiến nghị thành phố sớm xây dựng quy hoạch tổng thể dọc tuyến ven biển, làm cơ sở cho công tác quản lý và phát triển bền vững.

Ông Hoàng cũng thông tin, sau khi hợp nhất, TP. Hồ Chí Minh sở hữu hệ thống thủy lợi đa dạng gồm sông, kênh rạch, hồ chứa và vùng ven biển, do đó cần lựa chọn các giải pháp công nghệ phù hợp với từng loại hình, đặc biệt là các công nghệ mới trong bảo vệ bờ.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục