Hoàn thiện 25 cơ sở dữ liệu, ngành nông nghiệp và môi trường tăng tốc chuyển đổi số

09:58' - 27/02/2026
BNEWS Khi hoàn thiện đồng bộ, ngành sẽ có nền tảng dữ liệu thống nhất, phục vụ điều hành theo thời gian thực, giảm thủ tục giấy tờ và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện được giao xây dựng, quản lý 25 cơ sở dữ liệu (CSDL), hệ thống thông tin (HTTT) phục vụ quản lý nhà nước và chuyển đổi số toàn ngành. Trong bối cảnh khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, đa dạng và phức tạp, việc hoàn thiện các CSDL theo hướng “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo nền tảng cho điều hành dựa trên dữ liệu và cung cấp dịch vụ công trực tuyến hiệu quả.

* 4 hệ thống đã đưa vào khai thác, 21 CSDL tiếp tục hoàn thiện

Trong tổng số 25 hệ thống, hiện đã có 4 hệ thống thông tin được xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng ổn định, gồm: Hệ thống thư điện tử công vụ của Bộ; Hệ thống Văn phòng điện tử và CSDL văn bản, hồ sơ, tài liệu; Cổng Thông tin điện tử Bộ; Hệ thống thông tin và CSDL lưu trữ điện tử.

Đối với 21 CSDL còn lại, Bộ Nông nghiệp và môi trường đang tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện để từng bước đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về chất lượng dữ liệu và khả năng kết nối, chia sẻ, dùng chung.

Riêng 12 CSDL được giao theo Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, bao gồm: CSDL quốc gia về đất đai; CSDL khí tượng thủy văn quốc gia; CSDL nền địa lý quốc gia; CSDL nghề cá quốc gia (Vnfishbase); CSDL nuôi trồng thủy sản; CSDL trồng trọt (bao gồm giống cây trồng); CSDL về khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo; CSDL viễn thám quốc gia; CSDL báo cáo thống kê ngành nông nghiệp và môi trường; CSDL môi trường quốc gia; CSDL hộ nghèo, hộ cận nghèo; CSDL ngành nông nghiệp.

Theo kết quả đánh giá việc triển khai 12 CSDL này trên cơ sở 6 tiêu chí, CSDL quốc gia về đất đai và CSDL nghề cá quốc gia là hai hệ thống đạt mức cao nhất với 5/6 tiêu chí.

Nhóm các CSDL đạt 4/6 tiêu chí gồm: CSDL trồng trọt; CSDL hộ nghèo, hộ cận nghèo; CSDL báo cáo thống kê ngành nông nghiệp và môi trường; CSDL khí tượng thủy văn quốc gia; CSDL môi trường quốc gia; CSDL nền địa lý quốc gia; CSDL về khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo; CSDL viễn thám quốc gia; CSDL nuôi trồng thủy sản.

Riêng CSDL ngành nông nghiệp hiện mới đạt 2/6 tiêu chí, cho thấy vẫn còn nhiều nội dung cần tiếp tục đầu tư, hoàn thiện trong thời gian tới.

*Hợp nhất hệ thống giải quyết thủ tục hành chính

Song song với việc xây dựng các CSDL chuyên ngành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành hợp nhất Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo mô hình tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương và chính thức vận hành từ ngày 1/1/2026.

Hệ thống hiện đã được tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng thanh toán trực tuyến, CSDL đăng ký doanh nghiệp; đồng thời đang tiếp tục triển khai kết nối với CSDL quốc gia về dân cư (VNeID), hệ thống bưu chính công ích và các hệ thống chuyên ngành khác.

Tính đến ngày 25/2/2026, hệ thống ghi nhận 52.260 hồ sơ phát sinh, trong đó có 50.446 hồ sơ nộp trực tuyến, đạt tỷ lệ 96,53%. 

Qua rà soát, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã cắt giảm, đơn giản hóa 79 thủ tục hành chính có thể thay thế thành phần hồ sơ bằng dữ liệu sẵn có trong các CSDL. Việc này góp phần giảm giấy tờ, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy việc khai thác, sử dụng dữ liệu dùng chung.

*Hướng tới dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện phần lớn các CSDL của đơn vị vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, đồng bộ, kết nối, dùng chung”. Do vậy, việc khai thác, sử dụng dữ liệu để ra quyết định, điều hành bằng dữ liệu, góp phần giải quyết TTHC còn chưa đạt hiệu quả cao nhất.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với 16 lĩnh vực. Vì vậy, dữ liệu của ngành có quy mô lớn, đa dạng về chủng loại và phức tạp về cấu trúc. Dữ liệu bao gồm số liệu thống kê, dữ liệu nền địa lý, viễn thám, khí tượng, môi trường…, được thu thập từ điều tra thực địa, ảnh vệ tinh và nhiều nguồn khác nhau trên phạm vi cả nước.

Với đặc thù dung lượng lớn và thông tin đa chiều, dữ liệu cần được xử lý, chuẩn hóa, làm sạch trước khi cập nhật vào các CSDL chuyên ngành, nhằm bảo đảm khả năng khai thác, sử dụng và kết nối, đồng bộ lên Trung tâm dữ liệu quốc gia (C12).

Một thách thức khác là nhiều dữ liệu mang tính chất địa phương, do các tỉnh, thành phố trực tiếp thu thập và quản lý, như dữ liệu đất đai, tiến độ sản xuất nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản… Để hình thành CSDL chuyên ngành và CSDL tổng hợp thống nhất, cần có cơ chế kết nối, thu thập và chuẩn hóa dữ liệu từ địa phương trước khi đồng bộ lên hệ thống quốc gia.

Đáng chú ý, ngày càng nhiều loại dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực, như dữ liệu khí tượng, thủy văn, môi trường, cảnh báo cháy rừng, giám sát thiên tai, dịch bệnh… Các dữ liệu này được truyền từ hệ thống trạm quan trắc, thiết bị cảm biến, ảnh viễn thám và các nền tảng công nghệ khác. Tuy nhiên, để bảo đảm độ tin cậy và tính đồng bộ, dữ liệu vẫn cần được kiểm tra, xử lý trước khi tích hợp chính thức.

Bên cạnh đó, việc thu nhận và tạo lập dữ liệu vẫn còn mang tính thủ công, manh mún, phụ thuộc nhiều vào báo cáo giấy hoặc các tệp dữ liệu rời rạc. Độ trễ dữ liệu còn lớn, sai số cao do chưa khai thác triệt để các công nghệ như IoT, viễn thám; công tác số hóa dữ liệu tại nguồn chưa được quan tâm đúng mức, dẫn tới việc dữ liệu chưa được nhập một lần và cập nhật theo thời gian thực.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục