1. >

Huy động nguồn điện chạy dầu để đảm bảo cung ứng 3 tháng cuối năm

Facebook Share

BNEWS.VN EVN cho hay, dự báo nhu cầu sử dụng điện đến cuối năm tiếp tục tăng cao, trong khi hệ thống điện hầu như không có dự phòng nguồn điện.

Huy động nguồn điện chạy dầu để đảm bảo cung ứng 3 tháng cuối năm

Huy động nguồn điện chạy dầu để đảm bảo cung ứng 3 tháng cuối năm. Ảnh: Đức Dũng/BNEWS/TTXVN

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), trong 3 tháng cuối năm 2019, Tập đoàn phải huy động các nguồn điện chạy dầu để đảm bảo cung ứng điện cho sản xuất và tiêu dùng, dù đây là thách thức rất lớn với tình hình tài chính của Tập đoàn.

EVN cho hay, dự báo nhu cầu sử dụng điện đến cuối năm tiếp tục tăng cao, trong khi hệ thống điện hầu như không có dự phòng nguồn điện. Bên cạnh đó, mực nước các hồ thủy điện đang ở mức rất thấp, đặc biệt các hồ thủy điện lớn trên dòng sông Đà ở gần mực nước chết; việc cung ứng than cho phát điện cũng hết sức khó khăn bởi các Nhà máy nhiệt điện đã huy động tối đa trong 9 tháng đầu năm 2019; nguồn khí trong nước suy giảm, từ tháng 10/2019 sản lượng khí PM3 tiếp tục giảm mạnh.

Với các nguồn năng lượng tái tạo, tổng công suất các nguồn này đã đưa vào vận hành và dự kiến tiếp tục tăng cao ảnh hưởng đến việc vận hành an toàn, ổn định hệ thống điện...

Dự kiến vận hành cả năm 2019, điện sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo là khoảng 5,54 tỷ kWh (riêng điện mặt trời khoảng 4,6 tỷ kWh). Đặc biệt, ước tính cả năm 2019 có thể phải huy động nguồn chạy dầu chi phí cao với sản lượng khoảng 1,56 tỷ kWh.

Chỉ tính riêng 20 ngày đầu tháng 10/2019, sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống là 13,2 tỷ kWh; trong đó EVN phải huy động các nguồn điện chạy dầu là 178 triệu kWh.

Về thủy điện, đến hết tháng 9, thời tiết khô hạn vẫn tiếp tục xảy ra ở nhiều hồ thủy điện trên cả nước, lượng nước về vẫn ở mức rất thấp so với trung bình nhiều năm. Trên lưu vực sông Đà, lượng nước về các hồ chứa lớn ở phía Bắc (Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình) và nhiều hồ thủy điện tại khu vực Nam Trung Bộ ở mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây. Đặc biệt, một số hồ chứa ở các lưu vực Tây Nguyên và Nam Bộ như: hồ Sêrêpôk, Trị An.. phải xả điều tiết để đảm bảo mực nước giới hạn theo quy định.

Tính đến hết đầu tháng 10/2019, mực nước 26/37 hồ chứa thủy điện của EVN ở mức thấp hơn cùng kỳ năm 2018. Tổng dung tích hữu ích hiện có ở các hồ chứa thủy điện khoảng 19,67 tỷ m3, thấp hơn cùng kỳ năm 2018 khoảng 7,67  tỷ m3 (tương đương gần 2 tỷ kWh).

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2019, điện sản xuất của các Nhà máy thủy điện đạt 51,98 tỷ kWh, giảm 18,3% (giảm 11,7 tỷ kWh) so với cùng kỳ năm 2018. Điện sản xuất các Nhà máy nhiệt điện than đạt 88,05 tỷ kWh, tăng 35% (tăng 22,8 tỷ kWh) so với cùng kỳ năm 2018; các nguồn năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối) đạt 3,51 tỷ kWh chiếm tỷ trọng khoảng 1,54%; trong đó sản lượng điện mặt trời là 2,78 tỷ kWh.

Về truyền tải điện, trong tháng 9 qua, việc truyền tải chủ yếu theo hướng từ miền Nam ra miền Trung và miền Bắc để đảm bảo cung cấp điện an toàn cho miền Bắc do thời tiết nắng nóng; đồng thời huy động tối đa khả năng giải tỏa điện năng từ các Nhà máy điện mặt trời. Lũy kế 9 tháng, sản lượng truyền tải đạt khoảng 151 tỷ kWh (tăng 10% so với cùng kỳ năm 2018). Sản lượng điện truyền tải vào miền Nam khoảng 30,4 triệu kWh/ngày, tương đương 10,3% nhu cầu điện miền Nam.

Tính đến hết tháng 9/2019, đã có 15.289 dự án điện mặt trời áp mái nhà với tổng công suất 249,9 MWp được lắp đặt.

EVN cho hay, sản lượng điện sản xuất và mua cả năm 2019 ước đạt 226,4 tỷ kWh; trong đó sản lượng điện thương phẩm năm 2019 ước đạt 211,4 tỷ kWh, tăng 9,9% so với thực hiện năm 2018; chỉ số tiếp cận điện năng cải thiện từ 3 - 5 bậc so với năm 2018, xếp hạng ≤ 24/190 quốc gia, nền kinh tế…/.

>> .Không để thiếu điện khu vực sản xuất nước sạch tại Hà Nội sau sự cố nước sông Đà

logo

BẢNG GIÁ VÀNG (BẢO TÍN MINH CHÂU)

VIDEO

Ngày 16/01, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS-Yusof Ishak) có trụ sở tại Singapore đã công bố báo cáo khảo sát “Thông điệp Đông Nam Á: 2020”. Khảo sát tiến hành với 1.308 người đến từ 10 quốc gia ASEAN, trong đó chủ yếu là các quan chức chính phủ, giới nghiên cứu, học giả và giới kinh doanh.

ncif