Ấn tượng Việt Nam: Doanh nghiệp liên kết để lớn mạnh ​

11:22' - 30/08/2025
BNEWS Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường, liên kết doanh nghiệp đang trở thành hướng đi triển vọng.
Việc kết nối, chia sẻ nguồn lực và triển khai các mô hình kinh doanh mới không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây chính là nền tảng để doanh nghiệp tạo sức mạnh tổng hợp, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và mở rộng cơ hội trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Đánh giá về thực trạng liên kết doanh nghiệp Việt Nam, Ts Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược cho hay, gần đây,  các hình thức liên kết doanh nghiệp ngày càng trở nên đa dạng hơn, bao gồm hợp tác doanh nghiệp cùng ngành hay còn gọi là liên kết ngang; hình thành chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng - liên kết dọc; đầu tư, góp vốn, mua bán, sáp nhập và hình thành các nhóm công ty, ký kết hợp tác chiến lược nhằm chia sẻ thị trường, thông tin, nghiên cứu và phát triển. Trong mối liên kết với doanh nghiệp nước ngoài, số lượng doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng tăng, dù ở vị trí thấp hay cao trong chuỗi. Liên kết doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài Nhà nước có điều kiện thuận lợi để phát triển thông qua chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu doanh nghiệp Nhà nước.

Việt Nam đã có một số doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia vào cạnh tranh quốc tế, tham gia vào một số khâu, công đoạn của chuỗi giá trị sản xuất khu vực và thế  giới như Vinamilk, FPT, VinFast.... Tuy nhiên, mạng lưới doanh nghiệp liên kết của họ vẫn bị giới hạn chủ yếu trong phạm vi số ít các doanh nghiệp cùng hệ thống sở hữu. Việt Nam còn thiếu các doanh nghiệp lớn kể cả doanh nghiệp Nhà nước và khu vực tư nhân có khả năng kết nối, làm chủ chuỗi giá trị và dẫn dắt hệ sinh thái doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước để phát triển các ngành kinh tế chiến lược quốc gia có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Bên cạnh đó, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hoạt động đơn lẻ và chưa chủ động tham gia vào các quan hệ đối tác, liên kết. Ở những giai đoạn kinh tế khó khăn, chuỗi cung ứng đứt gãy..., các doanh nghiệp trong nước không tạo được vòng tuần hoàn chặt chẽ để cùng liên kết, cung ứng, chia sẻ và tối đa hóa đầu vào, tiêu thụ sản phẩm đầu ra và cùng nhau phát triển. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chưa tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu do các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dẫn dắt. Số lượng doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp FDI chỉ đạt khoảng 300 trên tổng số hơn 1.800 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ; trong đó chủ yếu cung ứng hàng hóa và dịch vụ có giá trị gia tăng thấp hoặc đơn giản...

Phân tích nguyên nhân nội tại này, Ts Trần Thị Hồng Minh nhấn mạnh, cơ bản nhất là do năng lực sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ của phần lớn doanh nghiệp Việt Nam còn tương đối hạn chế, từ cạnh tranh về giá, chất lượng cho đến khả năng giao hàng đúng thời hạn, thực hiện đơn hàng lớn, tiếp cận kênh phân phối. Mối liên kết lỏng lẻo giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước cũng xuất phát từ việc các doanh nghiệp FDI hầu như đều đã có sẵn mạng lưới những doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của mình nên ít có nhu cầu tìm kiếm đối tác cung ứng bên ngoài.

Thêm vào đó, các nhà cung cấp trong nước cũng thiếu các kênh chính thức để thu thập thông tin về chiến lược mua hàng của doanh nghiệp FDI, nên không tạo được các mối quan hệ kinh doanh. Đó là chưa kể khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp trong nước còn rất hạn chế...

Ở góc nhìn chính sách, PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn, Phó Trưởng Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương cho biết, chính sách phát triển doanh nghiệp hiện nay cũng chưa tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh để tham gia các liên kết doanh nghiệp, hình thành chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng trong nước, khu vực và quốc tế. Hiệu quả thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thấp. Trong khi đó, Việt Nam còn thiếu chính sách đặc thù về thúc đẩy các hình thức liên kết doanh nghiệp, nhất là chính sách ưu đãi về thuế, tiếp cận vốn, bảo lãnh tín dụng, mặt bằng sản xuất kinh doanh theo mức độ tham gia liên kết chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng. Nhiều quy định hiện hành cũng chưa đủ thuận lợi cho hoạt động tiếp cận các hình thức cấp vốn theo chuỗi giá trị.

Để cải thiện thực trạng này và tạo động lực thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, bền vững hơn trong thời gian tới, PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn khuyến nghị, cần đổi mới tư duy, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức về vai trò, vị trí của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Theo đó, thay vì nhìn nhận khu vực kinh tế tư nhân là yếu kém có nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ thì phải coi đây là một khu vực đầy tiềm năng, cần có những cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp để vươn lên; thay đổi tư duy từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ hỗ trợ trước đầu tư sang “thưởng sau” đầu tư. Kinh tế tư nhân cần được tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển bình đẳng với các khu vực kinh tế khác, dưới sự quản lý, điều tiết của Nhà nước; triệt để thực hiện nguyên tắc kinh tế tư nhân được tham gia hoạt động và phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Thêm vào đó, xây dựng và tổ chức thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển khu vực kinh tế tư nhân; thiết kế các cơ chế, chính sách hỗ trợ hiệu quả theo từng nhóm đối tượng trong khu vực kinh tế tư nhân; thiết kế các cơ chế, chính sách để kết nối khu vực kinh tế tư nhân với chiến lược phát triển quốc gia, các chương trình phát triển quốc gia; các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân với nhau; khu vực kinh tế tư nhân với  khu vực nhà nước và với khu vực FDI.

Cụ thể hơn, để kết nối giữa các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân cần khuyến khích phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động các hiệp hội ngành nghề, câu lạc bộ doanh nghiệp; xây dựng các mạng lưới, nền tảng số để doanh nghiệp dễ dàng kết nối, chia sẻ thông tin, tìm kiếm đối tác, liên kết chuỗi cung ứng; xây dựng các chuỗi liên kết doanh nghiệp theo cụm ngành, chuỗi giá trị; khuyến khích các doanh nghiệp lớn dẫn dắt chuỗi cung ứng nội địa, kết nối với các doanh nghiệp vừa, nhỏ và hộ kinh doanh cá thể. Bên cạnh đó, hỗ trợ phát triển các cụm liên kết ngành trong các lĩnh vực như: Công nghiệp hỗ trợ, chế biến nông sản, công nghệ thông tin, công nghiệp sáng tạo; tổ chức các diễn đàn, hội chợ, hội thảo doanh nghiệp...

Theo TS. Trần Thị Hồng Minh, thúc đẩy liên kết doanh nghiệp hình thành chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng bằng chính sách ưu đãi vượt trội về thuế, tiếp cận vốn, bảo lãnh tín dụng, mặt bằng kinh doanh theo mức độ tham gia liên kết cũng là cách thức dễ làm và dễ đạt hiệu quả. Bên cạnh đó, điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng nâng cao điều kiện ràng buộc về tỷ lệ nội địa hóa và tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ được cung cấp bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Nhà nước đầu tư và có cơ chế ưu đãi đầu tư xây dựng các khu công nghiệp chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận hạ tầng với chi phí hợp lý, tạo môi trường liên kết và hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động theo cụm - chuỗi; sớm hình thành và phát triển các khu thương mại tự do làm cứ điểm chiến lược để các doanh nghiệp phát triển tập trung và phát triển theo chuỗi liên kết ngành, gắn với các mô hình kinh doanh mới.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục