Chuyển đổi xanh: Cần lộ trình và kết nối chặt chẽ giữa các chủ thể liên quan

  • Hữu Duyên - Trung Tuyến/vnanet.vn

BNEWS Những kinh nghiệm quốc tế gợi mở cho Việt Nam cách kết nối lộ trình với thực thi, nhu cầu sản xuất với giải pháp khoa học và đổi mới công nghệ với sử dụng tài nguyên hiệu quả.

PGS.TS Nguyễn Minh Tâm, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Trung Tuyến - TTXVN

Chuyển đổi xanh đòi hỏi thay đổi từ cách hoạch định chính sách, tổ chức sản xuất đến hành vi tiêu dùng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Việt Nam cần xác định rõ trọng tâm, kết nối các chủ thể và lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.

Trong tiến trình này, năng lực đổi mới sáng tạo và sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, giới nghiên cứu, cộng đồng có vai trò quan trọng để chuyển định hướng phát triển bền vững thành hành động cụ thể. Đây là nội dung được chia sẻ tại Hội nghị Quốc tế Bàn tròn châu Á – Thái Bình Dương "Sản xuất và Tiêu dùng bền vững 2026" (APRSCP lần thứ 18), tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 26/10.

Kết nối các chủ thể để thực thi hiệu quả

Có lộ trình là bước khởi đầu, nhưng triển khai lộ trình như thế nào mới là thách thức mà Tiến sĩ Chaiyod Bunyagidj, đại diện Mạng lưới sản xuất và tiêu dùng bền vững (SCP) Thái Lan nhấn mạnh khi chia sẻ kinh nghiệm thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững tại Thái Lan. Theo Tiến sĩ Chaiyod Bunyagidj, Bàn tròn châu Á – Thái Bình Dương về Sản xuất và Tiêu dùng bền vững (APRSCP) đã thúc đẩy lĩnh vực này từ năm 1997, ban đầu chủ yếu tiếp cận ở cấp khu vực. Sau năm 2017, yêu cầu triển khai chính sách tại từng quốc gia được chú trọng hơn. Các nước như Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines và Sri Lanka được đề nghị xây dựng kế hoạch hành động riêng, phù hợp với điều kiện từng nước.

Theo đánh giá của Tiến sĩ Chaiyod Bunyagidj, hầu hết các quốc gia đã có lộ trình hoặc kế hoạch hành động; vấn đề cần tập trung giải quyết là tổ chức thực thi hiệu quả. Tại Thái Lan, yêu cầu này dẫn đến việc thành lập mạng lưới kết nối cơ quan hoạch định chính sách, doanh nghiệp, giới học thuật và các tổ chức xã hội dân sự. Các thành viên cùng xem xét bối cảnh thực tế, nhận diện thách thức và thống nhất hướng đi. Kinh tế tuần hoàn và kinh tế phát thải carbon thấp được lựa chọn làm công cụ thúc đẩy quá trình chuyển đổi. Sự đồng thuận trong mạng lưới giúp các bên có chung định hướng khi triển khai.

Đây cũng là kinh nghiệm mà Tiến sĩ Chaiyod Bunyagidj muốn chia sẻ với Việt Nam, xây dựng được cơ chế để những chủ thể có vai trò khác nhau cùng tham gia thực hiện mục tiêu chung. "Việt Nam sở hữu nền tảng rất mạnh ở cả ba trụ cột: Chính phủ, doanh nghiệp và giới học thuật. Điều quan trọng hiện nay là Việt Nam cần xác định rõ những vấn đề trọng tâm muốn tập trung xử lý để triển khai lộ trình một cách hiệu quả nhất", Tiến sĩ Chaiyod Bunyagidj nhận định.

Ở cấp độ khu vực, Tiến sĩ Yasuhiko Hotta, Chủ tịch Bàn tròn châu Á – Thái Bình Dương về Sản xuất và Tiêu dùng bền vững (APRSCP) cho biết, các nội dung được chú trọng trong mạng gồm sản xuất và tiêu dùng bền vững, kinh tế tuần hoàn, công nghệ tiên tiến, chuyển đổi số và hành động vì khí hậu.

Theo Tiến sĩ Yasuhiko Hotta, APRSCP hướng tới tái khởi động, nâng cấp các chức năng cốt lõi, gồm hỗ trợ chính sách, nâng cao năng lực, thử nghiệm các mô hình xã hội và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong cộng đồng doanh nghiệp. Các định hướng này cho thấy quá trình chuyển đổi cần sự kết hợp giữa chính sách, năng lực thực hiện và hoạt động thử nghiệm.

Từ phía Việt Nam, ông Hoàng Văn Tâm, Trưởng phòng Tổng hợp Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Bộ Công Thương cho rằng, biến đổi khí hậu, áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và những yêu cầu xanh ngày càng cấp bách đang định hình lại cách thức các ngành công nghiệp sản xuất và cạnh tranh. Cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 đặt ra yêu cầu hành động gắn với kết quả cụ thể trong sản xuất. Chuyển đổi xanh và chuyển đổi số cần được triển khai gắn kết, đồng thời tăng cường hợp tác xuyên biên giới, bởi không quốc gia nào có thể thực hiện chuyển đổi xanh một mình.

"Không quốc gia nào có thể thực hiện chuyển đổi xanh một mình. Việc chia sẻ tri thức, thực hành tốt và tăng cường hợp tác quốc tế có ý nghĩa quan trọng. Chúng tôi sẵn sàng làm đầu mối kết nối viện nghiên cứu, doanh nghiệp và đối tác quốc tế; đồng thời tiếp thu các khuyến nghị để tham mưu hoàn thiện chính sách về sản xuất và tiêu dùng bền vững, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh trong các ngành công nghiệp trọng điểm", ông Hoàng Văn Tâm nhấn mạnh.

Lựa chọn công nghệ, thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng

Đại biểu tham dự Hội nghị quốc tế - Phiên họp Thường niên lần thứ 18 APRSCP: Kết nối Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Trung Tuyến - TTXVN

Từ góc nhìn hợp tác công nghệ, Giáo sư Gopalakrishman Kumar (Đại học Stavanger - Na Uy) gợi mở khả năng ứng dụng kinh nghiệm Na Uy vào ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam. Ông nhận xét đường bờ biển hai nước có những nét tương đồng, trong khi Việt Nam đang phát triển mạnh lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Đây là cơ sở để xem xét những hướng hợp tác phục vụ chuyển đổi xanh và giảm phát thải carbon.

Theo Giáo sư Kumar, các công nghệ nuôi trồng thủy sản tiên tiến của Na Uy có thể được nghiên cứu ứng dụng để góp phần giải quyết những thách thức Việt Nam đang đối mặt. Quá trình hợp tác có thể mang lại lợi ích hai chiều, vừa thúc đẩy chuyển giao công nghệ, vừa tạo cơ hội trao đổi và học hỏi từ thực tiễn.

Giáo sư Kumar cũng lưu ý những thách thức giữa nền kinh tế phát triển và nền kinh tế mới nổi cần được giải quyết hiệu quả. Vì vậy, cơ hội hợp tác phải gắn với khả năng ứng dụng công nghệ trong điều kiện của bên tiếp nhận.

Gợi mở từ ngành nuôi trồng thủy sản cho thấy một hướng tiếp cận cụ thể bắt đầu từ nhu cầu chuyển đổi của ngành sản xuất để tìm kiếm công nghệ và đối tác phù hợp. Đây cũng là điểm kết nối với yêu cầu đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn mà các cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo trong nước đặt ra.

Đồng quan điểm, ông Hoàng Văn Tâm cho rằng, những lĩnh vực như công nghệ cao, lọc sinh học, cộng sinh công nghiệp, sản xuất thông minh và truy xuất nguồn gốc số đều cần các giải pháp thực tế, có khả năng đi từ phòng thí nghiệm đến nhà máy. Việc kết nối khoa học, công nghệ số và chuyển đổi xanh phải hướng đến kết quả trong hoạt động sản xuất.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tâm, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, mục tiêu hợp tác cần hướng tới chuyển hóa nghiên cứu thành ứng dụng, qua đó tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và hỗ trợ phát triển bền vững. Để hợp tác đi vào thực chất, các bên cần xác định nhu cầu, tìm kiếm đối tác phù hợp và phát triển những bước đi cụ thể. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được tạo điều kiện tham gia thông qua việc tiếp cận công nghệ, kỹ năng và nguồn tài chính. Những kết nối được thiết lập cần tiếp tục phát triển thành hoạt động hợp tác lâu dài.

Bên cạnh công nghệ và năng lực ứng dụng, chuyển đổi xanh còn đòi hỏi thay đổi cách sử dụng tài nguyên. Bà Akiko Yamamoto, Trưởng nhóm khu vực châu Á - Thái Bình Dương, môi trường và năng lượng thuộc Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), cho rằng vấn đề môi trường hiện nay thực chất gắn với sự chuyển dịch từ mô hình phát triển kinh tế tuyến tính truyền thống sang một mô hình phát triển mới. Sự chuyển dịch này cần nỗ lực lớn từ cả những người hoạch định chiến lược kinh tế lẫn khu vực công nghiệp.

Theo bà Akiko Yamamoto, các nhà hoạch định chính sách cần xem xét nghiêm túc lộ trình chuyển đổi; doanh nghiệp cần thay đổi cách thức tạo ra lợi nhuận. Quan điểm này đặt yêu cầu phát triển xanh vào hoạt động cốt lõi của nền kinh tế, từ định hướng chiến lược đến quyết định sản xuất, kinh doanh.

Bà Akiko Yamamoto cũng đánh giá cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, sự sẵn sàng trải nghiệm điều mới và hướng về tương lai của người Việt Nam. Bà kỳ vọng thế mạnh này được phát huy để tìm kiếm giải pháp sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao ý thức về hành vi tiêu dùng.

"Chúng ta cần giảm bớt sự phụ thuộc vào lối sống thiên về tiêu dùng, thay vào đó là sống hòa hợp với thiên nhiên, tạo ra các tác động tích cực cho môi trường và có ý thức rõ ràng hơn về hành vi tiêu dùng của chính mình", bà Akiko Yamamoto chia sẻ.

Những kinh nghiệm quốc tế gợi mở cho Việt Nam cách kết nối lộ trình với thực thi, nhu cầu sản xuất với giải pháp khoa học và đổi mới công nghệ với sử dụng tài nguyên hiệu quả. Khi doanh nghiệp có điều kiện tiếp nhận công nghệ, cơ sở nghiên cứu bám sát bài toán thực tế và người tiêu dùng ý thức rõ hơn về lựa chọn của mình, chuyển đổi xanh sẽ có thêm nền tảng để đi vào đời sống kinh tế – xã hội.



Tin cùng chuyên mục