Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Sớm đưa các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vào cuộc sống

13:04' - 03/07/2023
BNEWS Với những hệ luỵ còn dai dẳng từ đại dịch COVID-19, doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn.
Mặc dù dịch COVID-19 đã đi qua nhưng hệ luỵ còn dai dẳng, đại dịch là nguồn gốc sâu xa gây nên cơn bão lạm phát và kinh tế toàn cầu suy giảm sâu. Kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, xuất khẩu phụ thuộc vào tổng cầu thế giới nên doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng khó khăn của doanh nghiệp cũng như giải pháp tháo gỡ, Phóng viên BNEWS/TTXVN đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê xung quanh nội dung này.

Phóng viên: Đại dịch và bất ổn địa chính trị đã gây nên đứt gãy chuỗi cung ứng. Xin ông cho biết, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt đã bị ảnh hưởng như thế nào?


Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Khu vực doanh nghiệp của Việt Nam ta còn nhỏ và yếu, khả năng chống chịu trước các khó khăn không bền lâu. Toàn nền kinh tế có trên 850 nghìn doanh nghiệp, nhưng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, với quy mô vốn và lao động nhỏ. Do đó, doanh nghiệp dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ bên ngoài và các bất cập từ nội tại của nền kinh tế.
Năm 2022, lạm phát gây nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với kinh tế thế giới. Người dân các nước Mỹ, cộng đồng chung châu Âu, Vương quốc Anh và nhiều nước khác phải gánh chịu mức lạm phát cao nhất trong mấy thập kỷ qua, làm giảm sức mua và thay đổi cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình. Tổng cầu kinh tế thế giới và các nước là đối tác thương mại lớn của nước ta suy giảm. Điều này đang tác động trực tiếp tới lĩnh vực sản xuất của Việt Nam.
Chỉ số Nhà Quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam đã giảm xuống 45,3 điểm trong tháng 5/2023 so với 46,7 điểm trong tháng 4. Đây là tháng thứ ba liên tiếp chỉ số PMI giảm và ở dưới ngưỡng 50 điểm. Mức giảm của tháng 5/2023 là sâu nhất, đáng kể nhất kể từ tháng 9/2021.
Chỉ số PMI tháng 5/2023, phản ánh sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới giảm mạnh hơn; việc làm cùng với hoạt động mua hàng và niềm tin kinh doanh tiếp tục giảm. Đặc biệt, số lượng đơn đặt hàng mới giảm nhanh, với mức giảm lớn nhất trong 20 tháng qua. Số lượng đơn hàng mới từ nước ngoài giảm tháng thứ ba liên tiếp.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2023 của ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là một trong những nguyên nhân GDP 6 tháng đầu năm 2023 chỉ tăng 3,72%, mức tăng thấp nhất của 6 tháng đầu năm giai đoạn từ năm 2016 đến nay.
Phóng viên: Nhiều nhận định cho rằng, hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam đang trong tình cảnh kinh doanh đầy khắc nghiệt. Xin ông cho biết đâu là những nguyên nhân?
Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Tôi cho rằng, hiện nay, doanh nghiệp đang đương đầu với hàng loạt khó khăn, đầu tiên phải kể đến đơn hàng sụt giảm do tổng cầu thế giới và trong nước suy yếu. 6 tháng đầu năm 2023, đơn hàng của nhiều ngành xuất khẩu chủ lực sụt giảm nghiêm trọng, đặc biệt ngành dệt may, da giày, nội thất, nhôm công nghiệp, sắt thép, xi măng... khiến nhiều doanh nghiệp phải giảm quy mô sản xuất, giảm nhân công.
Bên cạnh đó, xu hướng ngày càng gia tăng các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa của Việt Nam. Từ đó, khiến doanh nghiệp bị động và gặp nhiều bất lợi trong tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Doanh nghiệp thiếu đơn hàng diễn ra phổ biến, lao động mất việc làm tại nhiều khu công nghiệp. Không những thế, doanh nghiệp đang cạn kiệt và khó tiếp cận nguồn vốn. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp phải bán sản phẩm thấp hơn giá thành để có vốn hoạt động, phải bán rẻ tài sản để tránh khả năng vỡ nợ. Nguy cơ doanh nghiệp phải bán, thậm chí có những thương hiệu tốt phải chuyển nhượng, hợp tác với các doanh nghiệp, quỹ đầu tư ngoại vì không cầm cự được…
Trong thời gian qua, mặt bằng lãi suất đã được giảm tương đối sâu. Chỉ trong vòng 3 tháng, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh giảm liên tiếp 4 lần các mức lãi suất với mức giảm từ 0,5 - 2%/năm.
Mặc dù vậy, tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp và đến thời điểm 20/6/2023 chỉ tăng 3,13%, chưa bằng 1/4 mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm khoảng 14-15%. Trong khi đó, cùng kỳ năm trước tăng trưởng tín dụng đạt 8,51%, phản ánh thực tế sản xuất kinh doanh khó khăn, hấp thụ vốn của doanh nghiệp và toàn nền kinh tế hạn chế.
Cùng với đó, niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng sụt giảm khi một bộ phận cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước ở các cấp chậm trễ trong thực thi công việc, mỗi nơi thực thi một kiểu. Có những quy định, chính sách, khung pháp lý không có tính khả thi, chẳng hạn như quy định về phòng cháy chữa cháy đã cản trở hoạt động của doanh nghiệp. Văn bản pháp luật thiếu rõ ràng, khó thực thi đã ảnh hưởng khá nhiều tới niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh.
Bên cạnh đó, việc hoàn thuế VAT cho các mặt hàng xuất khẩu của ngành gỗ, cao su đang gặp nhiều trở ngại với quy trình xác minh nguồn gốc phức tạp, không nhất quán cách làm giữa các địa phương, không nhất quán giữa thời gian xác minh được công bố với thời gian thực tế làm đọng vốn với số tiền rất lớn của doanh nghiệp…
Với những khó khăn, thách thức doanh nghiệp đang phải đương đầu cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đang trong tình cảnh kinh doanh đầy khắc nghiệt.
Bức tranh doanh nghiệp gia nhập và rút khỏi thị trường trong 6 tháng đầu năm 2023 là minh chứng rõ nét, phản ảnh khá đầy đủ những khó khăn, sự khắc nghiệt mà cộng đồng doanh nghiệp đang đối mặt.
Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2023 có 113.550 doanh nghiệp gia nhập thị trường, gấp 1,13 lần số doanh nghiệp rút khỏi thị trường, cứ 11 doanh nghiệp gia nhập thì cũng có 10 doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Đặc biệt, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường có xu hướng tăng, trong khi số doanh nghiệp thành lập mới có xu hướng chững lại. Bên cạnh đó, số vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục xu hướng giảm và thấp hơn mức bình quân 6 tháng đầu năm giai đoạn 2018-2022.
Phóng viên: Bên cạnh những khó khăn, thách thức trên góc độ kinh tế, doanh nghiệp Việt Nam còn phải đối mặt với khó khăn gì khác, thưa ông?
Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Bên cạnh nguyên nhân khách quan do suy thoái kinh tế thế giới, doanh nghiệp rơi vào tình cảnh khó khăn còn có nguyên nhân từ những bất cập trong nội tại của nền kinh tế. Trước hết, đó là thể chế, chính sách còn mâu thuẫn, xu thế cải cách chững lại khiến môi trường kinh doanh xấu đi, điều kiện kinh doanh đang có rào cản khó vượt hơn trước.
Sự chậm trễ, kém hiệu quả trong thực thi các chính sách, giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp do một số bộ, cơ quan, địa phương và một bộ phận cán bộ, công chức né tránh, đùn đẩy công việc, sợ trách nhiệm, không quyết định công việc thuộc thẩm quyền đã đẩy doanh nghiệp lâm vào tình cảnh ngày càng khó khăn.
Chẳng hạn, doanh nghiệp đang cạn vốn nhưng các cơ quan chức năng chậm triển khai gói hỗ trợ tín dụng lãi suất 2%, cuối tháng 3/2023 mới giải ngân được 0,8% trên tổng số 40.000 tỷ đồng. Đến hết tháng 4/2023 giải ngân được khoảng 1% và dự kiến cả năm 2023, gói này có thể chỉ giải ngân khoảng 5,8%.
Kinh tế trong nước bắt đầu suy giảm từ quý IV/2022 nhưng mặt bằng lãi suất tăng nhanh từ tháng 7/2022, với lãi vay trung bình khoảng 12%/năm gây tắc nghẽn dòng vốn. Trong 6 tháng đầu năm 2023, mặt bằng lãi vay hạ nhiệt nhưng vẫn cao so với ngưỡng chịu đựng của doanh nghiệp.
Phóng viên: Ông có thể đề xuất một số giải pháp nhằm tháo gỡ các rào cản, khó khăn cho doanh nghiệp hiện nay?
Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Tôi cho rằng, với tinh thần chủ động nhận diện khó khăn, rào cản, kịp thời ban hành chính sách, giải pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp, Chính phủ đã khẩn trương ban hành đầy đủ các chính sách, giải pháp. Tuy nhiên, nhiệm vụ bây giờ là khẩn trương triển khai thực hiện sao cho hiệu quả, đưa chính sách, giải pháp vào thực tế cuộc sống.
Bên cạnh việc khẩn trương triển khai đồng thời, đầy đủ các giải pháp đã ban hành, thiết nghĩ, Chính phủ cần quan tâm chỉ đạo một số nội dung cụ thể. Đó là Chính phủ cần khơi thông nguồn vốn tạo thanh khoản cho doanh nghiệp; thực hiện đồng bộ chính sách tài khoá và tiền tệ; trong đó chính sách tài khoá là trọng tâm vì hiệu quả tức thời của loại chính sách này. Chính sách tiền tệ có độ trễ và hoạt động của ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt.
Cùng với đó, Chính phủ có cơ chế đặc biệt để sớm hoàn thuế cho doanh nghiệp; có chính sách tín dụng phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh và nhu cầu của từng ngành, từng lĩnh vực. Cần xác định các ngành, lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế, các doanh nghiệp đã khẳng định thương hiệu để có gói tín dụng ưu đãi.
Chẳng hạn, đối với ngành thuỷ sản cần có gói tín dụng cho nuôi trồng thuỷ sản và mua dự trữ nguyên liệu để chế biến xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm và quý I năm 2024. Những gói tín dụng này rất cần thiết nhằm ứng phó với tình trạng hiện nay không có đơn hàng xuất khẩu, nhưng để có và thực hiện được đơn hàng xuất khẩu trong thời gian tới cần có vốn ưu đãi khiến người nuôi trồng thuỷ sản yên tâm tiếp tục thả nuôi, cung cấp đủ nguyên liệu cho doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
Tương tự đối với ngành dệt, may cần ưu đãi tín dụng để mua nguyên vật liệu, trả lương người lao động giống như gói vay ưu đãi 0% trả lương do Ngân hàng Chính sách xã hội đã thực hiện trong giai đoạn đại dịch.
Cùng với đó là giảm chi phí nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Cụ thể, Bộ Tài chính nghiên cứu duy trì chính sách miễn, giảm, gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất; miễn, giảm các loại phí, lệ phí… đồng thời, hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; đặc biệt, không ban hành thêm văn bản mới gây gánh nặng về thuế, phí, thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, Chính phủ cần chủ động xây dựng và thực hiện các giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; nâng cao năng lực và chất lượng dự báo, có giải pháp tổng thể đảm bảo đầy đủ nguồn cung xăng dầu dài hạn hơn… Bộ Công Thương cũng cần tăng cường và khẩn trương đàm phán thương mại, đa dạng hóa thị trường đầu vào và đầu ra để giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống. Minh bạch, đơn giản hóa quy trình thương mại; khuyến khích và đẩy mạnh chia sẻ thông tin về thương mại và giá cả; giữ vững năng lực cạnh tranh và thị phần của hàng hóa Việt trên thị trường thế giới. Các cơ quan chức năng cần nâng cao năng lực dự báo về xu hướng kinh tế, cập nhật các ưu đãi phát triển và cảnh báo rủi ro…
Phóng viên: Đối với cộng đồng doanh nghiệp, ông có đề xuất giải pháp gì, thưa ông?
Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Đối với cộng đồng doanh nghiệp cần phát huy tinh thần chủ động, linh hoạt chuẩn bị đầy đủ các điều kiện duy trì và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, bảo đảm nguồn cung và lưu thông hàng hóa. Dự báo các loại nguyên, nhiên vật liệu có thể thiếu hụt để chủ động tìm kiếm nguồn và đối tác cung ứng kịp thời.
Doanh nghiệp cần đa dạng và đảm bảo nguồn cung cho sản xuất của từng nhóm nguyên vật liệu của mỗi ngành để không phụ thuộc vào một thị trường, một khu vực; đồng thời, chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin và dự báo chính xác động thái thị trường, nhất là xu hướng, mức độ và lộ trình tăng giá, điều chỉnh lãi suất để chủ động trong xây dựng, điều chỉnh và thực hiện kế hoạch tài chính, kinh doanh.
Cùng với đó, đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp vừa là giải pháp ứng phó bất ổn, vừa là công cụ để cạnh tranh chiến lược, nâng cao năng lực và khả năng thích ứng trước các biến động, bất ổn khó lường của kinh tế thế giới. Thực hiện liên kết, chia sẻ nguồn cung nguyên vật liệu; đơn hàng, thị trường; đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất…
Doanh nghiệp tạo ra trên 60% GDP của đất nước, là chủ thể quan trọng nhất trong phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao mức sống dân cư. Kết quả hoạt động của doanh nghiệp quyết định mức độ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Doanh nghiệp mạnh thì kinh tế mới tăng trưởng.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông !

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục