1. >

Doanh nghiệp và FTA - Bài 1: Thu hẹp khó khăn, mở rộng lợi ích

Facebook Share

BNEWS.VN Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do, cùng quá trình 12 năm kể từ khi trở thành thành viên chính thức của WTO, diện mạo kinh tế Việt Nam có sự thay đổi.

Doanh nghiệp và FTA - Bài 1: Thu hẹp khó khăn, mở rộng lợi ích

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt vẫn còn yếu. Ảnh minh hoạ: TTXVN

Được đánh giá là nền kinh tế có độ mở lớn với thế giới, Việt Nam đang tiệm cận gần hơn tới các chuỗi giá trị toàn cầu. Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do, cùng quá trình trải qua 12 năm kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), diện mạo kinh tế Việt Nam có sự thay đổi; trong đó có sự đóng góp mạnh mẽ của lực lượng doanh nghiệp.

Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, nếu được tạo lập nền tảng tốt, có đầy đủ các thông tin, kiến thức về hội nhập và sự hỗ trợ tích cực của hệ thống pháp luật kinh doanh ổn định, minh bạch và có tính thúc đẩy thì chắc chắn các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ có những bước tiến xa hơn.

TTXVN xin giới thiệu loạt bài viết xung quanh các vấn đề này.

Bài 1: Thu hẹp khó khăn, mở rộng lợi ích

Làn sóng hội nhập đã đưa Việt Nam tiệm cận gần hơn tới các chuỗi giá trị toàn cầu và đem lại nhiều lợi ích kinh tế hơn bao giờ hết. Đó là điều đáng ghi nhận và tự hào.

Tuy nhiên, chúng ta cũng vấp phải áp lực từ những biến động của nền kinh tế thế giới như ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp xoay quanh từ các xung đột thương mại giữa các nước, sự thay đổi chính sách kinh tế, chính trị hay các rào cản thương mại...

Lợi thế và thách thức đan xen

Bình luận về lợi thế khi tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA), TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định, tham gia sân chơi chung của toàn cầu, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác không chỉ được hưởng lợi về cam kết giảm, miễn thuế nhập khẩu nhiều sản phẩm hàng hóa; các cam kết về dịch vụ… mà còn nhận được tác động tích cực từ áp lực cải thiện thể chế, đổi mới hệ thống pháp luật hiện hành và thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững. Điều đó phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn khách quan và cũng là xu hướng chung trên toàn cầu.

Là người luôn theo sát các hoạt động pháp lý của doanh nghiệp trên thương trường, TS. Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam cho biết, được loại bỏ thuế quan theo các FTA đã mang lại lợi thế hơn cho doanh nghiệp trong sản xuất và xuất khẩu; đồng thời, thu hút được nhiều nguồn vốn, công nghệ và trình độ quản lý của các đối tác đầu tư đến từ các nước đã có FTA với Việt Nam.

"Song cơ bản nhất là môi trường kinh doanh tại Việt Nam đã trở nên thông thoáng và an toàn hơn, với hàng loạt văn bản chính sách, pháp luật quan trọng về đầu tư, kinh doanh được xây dựng và sửa đổi cũng như chính sách để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường được đưa ra; cải cách thủ tục hành chính được triển khai trên diện rộng. Đồng thời, thấy rõ sự tham gia ít bị động hơn của cộng đồng doanh nghiệp vào chính sách thương mại quốc tế", ông Huỳnh nhấn mạnh.

Tuy nhiên, vì sao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế và tính liên kết giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn rất lỏng lẻo? Và tại sao vai trò của các doanh nghiệp Việt, sản phẩm Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu còn rất ít ỏi và mờ nhạt?

Có nhiều nguyên nhân lý giải cho việc doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được lợi thế từ các hiệp định thương mại. Theo nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), vấn đề nhận thức, rào cản về trình độ và công nghệ cùng năng lực hạn chế, không đáp ứng đủ các điều kiện về quy tắc xuất xứ… khiến nhiều doanh nghiệp Việt khó với tới những quyền lợi được giảm và miễn thuế đối với hàng xuất khẩu.

Thêm vào đó, thủ tục và trình tự cấp C/O để được hưởng ưu đãi hiện còn rất phức tạp khiến họ băn khoăn trước bài toán giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu được từ việc giảm thuế.

Đề cập vấn đề này, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế (VCCI) chỉ ra, ngoài việc chưa tận dụng được lợi thế từ các hiệp định thương mại, nhiều ngành hàng sản xuất của Việt Nam còn đối mặt với việc xuất khẩu có tăng nhưng giá trị gia tăng đem lại không cao, chủ yếu vẫn là cung ứng nguyên liệu thô và hàng gia công.

Trong khi đó, phải chịu sức ép cạnh tranh từ chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vì tỷ trọng xuất khẩu của khu vực này ngày càng tăng cao. Thêm vào đó là sức ép cạnh tranh khốc liệt từ hàng hóa nước ngoài ngay tại chính thị trường nội địa. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như chưa có sự chuẩn bị nên thường chỉ tự điều chỉnh để thích ứng thay vì tận dụng cơ hội.

Cùng với những khó khăn đó lại xuất hiện thêm nhiều rào cản khác ở thị trường các nước có FTA với Việt Nam như hàng rào kiểm dịch biên giới hay các biện pháp phòng vệ thương mại, ông Tuấn nêu thêm.

Từ thực tiễn của ngành nhựa, ông Hồ Đức Lam, Chủ tịch HĐQT Nhựa Rạng Đông kiêm Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam cho biết, ngành nhựa có c