Dự báo xu hướng phát triển của công nghiệp ô tô Việt Nam

10:52' - 05/11/2020
BNEWS Nhu cầu mua sắm xe ô tô cá nhân đang tăng nhanh hơn xe khách, xe tải, xe chuyên dụng… và đây là thị trường quan trọng cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phát triển.

Chủ tịch Hiệp hội công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) Lê Dương Quang cho rằng, đây cũng là xu hướng tất yếu đối với quốc gia 100 triệu dân, kinh tế tăng trưởng ổn định và tỷ lệ người trẻ tuổi cao.

* Thị trường nhỏ nhưng khá nhiều mẫu xe

Theo ông Quang, kể từ khi các doanh nghiệp FDI đầu tư sản xuất-lắp ráp ô tô tại Việt Nam, đến nay ngành công nghiệp ô tô nước ta đã có gần 30 năm phát triển. Dù vẫn còn những ý kiến khác nhau về con đường phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, song có lẽ không ai phủ nhận sự đóng góp của ngành này vào sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng.

Nói rõ hơn về thực trạng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, ông Lương Đức Toàn, Phó trưởng Phòng Công nghiệp Chế biến chế tạo, Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho hay, khi Việt Nam đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng ngành thì công nghiệp ô tô tại các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia đã rất phát triển.
Tính đến hết năm 2019, cả nước có khoảng 40 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô với sản lượng sản đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xe dưới 9 chỗ trong nước.

Đặc biệt, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã phát triển khá nhanh trong 3 năm trở lại đây. Tốc độ tăng trưởng của thị trường xe dưới 9 chỗ trung bình 20 - 30%/năm và tỷ lệ sở hữu ô tô tại Việt Nam khoảng 23 xe/1.000 dân. Đến năm 2020, Việt Nam sẽ sớm vượt Philippines cả về sản xuất và bán hàng.

Tuy vậy, ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam hiện mới chỉ tham gia vào phân khúc thấp của chuỗi giá trị ngành ô tô; phụ thuộc lớn vào sự phân công sản xuất của các tập đoàn ô tô toàn cầu, chưa làm chủ được các công nghệ cốt lõi như động cơ, hệ thống điều khiển, hệ thống truyền động. Tỷ lệ nội địa hoá đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi thấp hơn mục tiêu đề ra, đồng thời thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực.

Cùng với đó, với một thị trường ô tô còn hạn chế, nhu cầu thị trường thấp, nhưng có khá nhiều mẫu xe được giới thiệu ra thị trường nên khả năng để nội địa hoá, phát triển công nghiệp phụ trợ ô tô rất khó. Các sản phẩm đã được nội địa hóa mang hàm lượng công nghệ rất thấp.

Bên cạnh đó, ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn nên có đến 80% linh kiện cho sản xuất xe trong nước là nhập khẩu, khiến chi phí sản xuất lắp ráp xe trong nước đắt hơn từ 10 – 20% và giá bán xe vẫn cao hơn khoảng 20% so với các nước trong khu vực…

Chủ tịch VASI Lê Dương Quang cho rằng, gần 30 năm qua, Chính phủ luôn nhất quán chủ trương cần phát triển ngành công nghiệp ô tô, thể hiện qua hàng loạt quyết định phê duyệt chiến lược, quy hoạch, phát triển ngành công nghiệp ô tô và công nghiệp hỗ trợ cho ô tô… Thế nhưng, qua thực tế, các chính sách cụ thể được ban hành nhiều khi chưa thể hiện được hiệu quả những chủ trương đó và thiếu tính khả thi nên chủ trương phát triển ngành chưa như kỳ vọng.
* Tiêu thụ ô tô sẽ bùng nổ

Theo Bộ Công Thương, tiềm năng phát triển công nghiệp ô tô phụ thuộc vào 3 yếu tố quy mô và cơ cấu dân số, mức thu nhập bình quân đầu người và số xe trung bình/1.000 dân. Tại Việt Nam, xu thế ô tô hóa (motorization) sẽ diễn ra trong thời gian tới, khi GDP bình quân đầu người vượt 3.000 USD và số xe trung bình đạt 50 xe/1.000 dân.

Bên cạnh đó, Việt Nam đang trong giai đoạn dân số vàng, với sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu, là khách hàng tiêu dùng lớn tiềm năng của xe cá nhân. Dự kiến nhu cầu tiêu thụ ô tô sẽ bùng nổ trong giai đoạn đến năm 2025.

Bà Nguyễn Thu Trang, Phó trưởng Phòng Chính sách thuế Xuất nhập khẩu, Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) cũng cho rằng, trong những năm gần đây, thị trường ô tô nói chung và đặc biệt là phân khúc xe du lịch nói riêng đang có sự tăng trưởng vượt bậc tương ứng với giai đoạn ô tô hóa đang cận kề khi GDP bình quân đầu người tăng nhanh và nhu cầu sở hữu, chuyển đổi từ xe máy sang ô tô ngày càng lớn. Dự báo đến năm 2025, thị trường ô tô Việt Nam sẽ tiệm cận với 1 triệu xe bán ra/năm.

Đồng tình với các dự báo trên, Chủ tịch VASI Lê Dương Quang cho hay, đối với ngành công nghiệp ô tô, một trong những vấn đề Chính phủ cần xác định rõ là có khuyến khích người dân sử dụng ô tô cá nhân không? Thực tế nhu cầu mua sắm xe cá nhân đang và sẽ tăng nhanh hơn xe khách, xe tải, xe chuyên dụng… và đây là thị trường quan trọng cho ngành công nghiệp ô tô phát triển. Đặc biệt, đây là xu hướng tất yếu đối với quốc gia có 100 triệu dân, kinh tế tăng trưởng ổn định và tỷ lệ người trẻ tuổi cao.

Chủ tịch VASI nhấn mạnh, nếu khuyến khích người dân sử dụng ô tô cá nhân, Chính phủ cần định hướng cho các bộ, ngành trong việc xây dựng, ban hành các chính sách về hạ tầng giao thông, huy động vốn, thuế-phí, môi trường… theo hướng đồng bộ hơn. Bên cạnh đó, các chính sách thuế cần có tính ổn định lâu dài và có tính tiên liệu để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư bởi nếu chính sách thuế không ổn định lâu dài thì doanh nghiệp không thể xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn mà chỉ dám đầu tư kiểu “ăn xổi”.

Từ các hạn chế của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, ông Lương Đức Toàn cho rằng, Chính phủ cần có các chính sách, giải pháp để duy trì và từng bước phát triển sản xuất ô tô trong nước để bảo đảm tự chủ của ngành ô tô trước các biến động trong và ngoài nước. Đặc biệt là sự cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm nhập khẩu ô tô từ các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia và trong vòng 7 – 10 năm tới là các sản phẩm ô tô từ các quốc gia thành viên của Hiệp định CPTPP và EVFTA.

Đồng thời có các cơ chế chính sách thu hút đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các dự án có quy mô lớn tại Việt Nam, đặc biệt tập trung vào các thương hiệu và dòng xe chưa có tại khu vực ASEAN, nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu nhất vào chuỗi sản xuất ô tô đa quốc gia và hướng tới thị trường xuất khẩu trong khu vực.

Cùng với đó, cần có các chính sách về thuế, phí, lệ phí nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách chi phí sản xuất giữa ô tô trong nước và ô tô nhập khẩu.

Ngoài ra, cũng rất cần sự phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục hỗ trợ tháo gỡ cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo vệ thị trường trong nước; đồng thời tăng cường kiểm soát chất lượng nhập khẩu ô tô trong nội khối ASEAN, đảm bảo đáp ứng các điều kiện hưởng thuế suất 0%./.

Xem thêm:

>>Giải pháp nào để công nghiệp ô tô đón làn sóng đầu tư sau đại dịch?

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục