EVN đưa vào vận hành nhiều công trình nguồn và lưới điện

14:44' - 16/09/2020
Bnews EVN đã hoàn thành đóng điện 1.120 công trình lưới điện từ 110 - 500 kV; đảm bảo đấu nối, truyền tải công suất phát các nguồn điện, tăng cường năng lực truyền tải của hệ thống.

Trong giai đoạn 5 năm (từ năm 2016-2020), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã phát động và duy trì nhiều phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực. Các phong trào thi đua yêu nước của EVN đã huy động được sức mạnh đoàn kết của trên 100.000 cán bộ, công nhân viên toàn Tập đoàn. Đồng thời, đẩy tiến độ và đưa vào vận hành nhiều công trình nguồn điện, lưới điện quan trọng, cung cấp điện an toàn, ổn định cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước. 


*Đảm bảo tiến độ hàng nghìn dự án
Theo báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, trong 5 năm qua, đầu tư phát triển nguồn và hệ thống lưới điện cơ bản bám sát tiến độ, hoàn thành và đưa vào vận hành nhiều công trình quan trọng. Hạ tầng điện lực được củng cố nâng cấp để đáp ứng nhu cầu điện cả nước.
Về nguồn điện, Tập đoàn đã đưa vào vận hành 11 dự án với tổng công suất 6.093 MW, bằng 100% khối lượng được giao; trong đó, có nhiều dự án vượt tiến độ. Đồng thời, EVN khởi công 5 dự án nguồn điện với tổng công suất 2.380 MW.
Bên cạnh đó, Tập đoàn đã hoàn thành đưa vào vận hành các dự án nguồn điện mặt trời với tổng công suất 240 MWp; hỗ trợ và phối hợp với các nhà đầu tư đưa vào vận hành gần 100 nhà máy điện gió, mặt trời với tổng công suất trên 5.000 MW để bổ sung nguồn cấp điện quốc gia.
Về lưới điện, EVN đã hoàn thành đóng điện 1.120 công trình lưới điện từ 110 - 500 kV; đảm bảo đấu nối, truyền tải công suất phát các nguồn điện, tăng cường năng lực truyền tải của hệ thống.
EVN đã khởi công nhiều công trình như: Đường dây 500 kV Vũng Áng - Dốc Sỏi - Pleiku 2, đưa vào vận hành các công trình lưới điện đồng bộ Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, Duyên Hải, Long Phú, Sông Hậu, Thái Bình; các công trình giải tỏa thủy điện khu vực miền Bắc, các nguồn điện năng lượng tái tạo khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận, các công trình lưới điện đảm bảo cấp điện miền Nam, thành phố Hà Nội và các phụ tải lớn.
Tổng vốn đầu tư xây dựng trong giai đoạn 2016 - 2020 là 550.852 tỷ đồng, gấp 1,17 lần so với giai đoạn 2011-2015. Năm 2018, EVN được Fitch Ratings đánh giá và xếp hạng tín nhiệm quốc tế ở mức BB triển vọng. Đây là mức tín nhiệm tích cực đảm bảo EVN có thể thu hút các nhà đầu tư và huy động vốn để đầu tư các dự án điện.
Dự kiến đến cuối năm 2020, tổng công suất đặt của hệ thống điện Việt Nam đạt 59.210 MW; trong đó, công suất nguồn điện do Công ty mẹ Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các Tổng công ty Phát điện sở hữu, chi phối là 29.970 MW (chiếm 50,6% tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống).
Hoạt động điều hành hệ thống điện đã đáp ứng nhu cầu và mức tăng trưởng nhu cầu điện của nền kinh tế. Tính chung cả giai đoạn 2016-2020, tăng trưởng điện thương phẩm bình quân hàng năm đạt 9,0%/năm. Sản lượng điện thương phẩm bình quân trên đầu người của Việt Nam đến năm 2020 dự kiến đạt 2.250 kWh/người, gấp gần 1,44 lần so với năm 2015.
Dịch vụ khách hàng của đơn vị chuyển biến vượt bậc. Cuối năm 2018, Tập đoàn đã thực hiện cung cấp dịch vụ điện cấp độ 4, đến cuối năm 2019 đã cung cấp các dịch vụ điện trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công Quốc gia và tại 63/63 tỉnh/thành phố. Tổng số khách hàng mua điện trực tiếp từ EVN là 28,03 triệu khách hàng, tăng gần 20% so với năm 2015.
Chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam có bước đột phá, vươn lên đứng thứ 27/190 quốc gia, nền kinh tế trên thế giới và thứ 4 khu vực ASEAN, vượt trước 2 năm so với mục tiêu của Chính phủ. Sau 4 năm, giai đoạn 2016-2019, chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam cải thiện 81 bậc, là chỉ số có mức độ cải thiện nhiều nhất và là một trong 3 chỉ số có thứ hạng tốt nhất trong 10 chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam.

*Không để ai bị bỏ lại phía sau 


Hưởng ứng Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã tập trung chỉ đạo các đơn vị thực hiện đầu tư lưới điện khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Trong giai đoạn 2016-2020, Tập đoàn đã đầu tư cấp điện trên 51.000 hộ dân chưa có điện tại địa bàn khó khăn, vùng biên giới, đồng thời tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn và bán điện trực tiếp cho 90.160 hộ dân tại 35 xã.
Đến cuối năm 2019, 100% số xã trên cả nước có điện và 99,52% số hộ dân; trong đó 99,25% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện. Tập đoàn đã tiếp nhận và bán điện trực tiếp tại 11/12 huyện đảo trên cả nước, đặc biệt đã cấp điện và quản lý vận hành cho huyện đảo Trường Sa, góp phần giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Các dự án thực hiện từ nguồn vốn vay ưu đãi các tổ chức quốc tế như WB, ADB, KfW, JICA trên địa bàn hơn 50 tỉnh và từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Tổng số vốn đầu tư hơn 30.000 tỷ đồng được thực hiện đầu tư tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Bắc Kạn, Nghệ An, Lạng Sơn, Khánh Hòa, Hậu Giang, Cà Mau, Kiên Giang. Việc đầu tư cấp điện nông thôn, miền núi được chú trọng, đặc biệt khu vực chưa có điện.
Bên cạnh nguồn vốn ngân sách nhà nước, các Tổng công ty Điện lực đã chủ động thu xếp các nguồn vốn để đầu tư cấp điện các hộ dân chưa có điện tại địa bàn khó khăn...
Đặc biệt tháng 7/2018, Tập đoàn đã đưa điện lưới đến 2 xã cuối cùng chưa có điện trên cả nước (xã Ch’ơm và Tr’Hy huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam). Kết quả đầu tư đã góp phần cấp điện lưới cho hơn 300 xã chưa có điện và gần 350.000 hộ dân nông thôn chưa có điện. Bên cạnh đó, các dự án đầu tư lưới điện nông thôn đã góp phần cải thiện chất lượng lưới điện trung, hạ thế nông thôn cho gần 02 triệu hộ dân được cấp điện đảm bảo an toàn và chất lượng.
Cùng với đó, Chương trình hỗ trợ của Tập đoàn tại 3 huyện Than Uyên, Tân Uyên và Phong Thổ của tỉnh Lai Châu đã mang lại hiệu quả trực tiếp đến người dân, góp phần vào thành công chung giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Tập đoàn cũng đã hỗ trợ xây dựng 8 công trình trường học, trung tâm giáo dục ở các tỉnh Thái Bình, Sơn La, Kon Tum với kinh phí 115 tỷ đồng; xây dựng Nhà văn hóa đa năng tại đảo Đá lớn C (Trường Sa), công trình phòng tránh thiên tai miền Trung; hỗ trợ trang bị mới thiết bị y tế phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn...
Những nỗ lực của EVN trong việc đưa điện lưới quốc gia về nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; chương trình tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn đã và đang góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt của nhân dân, xoá đói, giảm nghèo và thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
Không chỉ đảm bảo tốt nhiệm vụ cung ứng điện trên cả nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn có lãi, nâng cao năng lực tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nhà nước, giá trị nộp ngân sách tăng qua các năm, một số chỉ tiêu hoàn thành vượt mức trước 1-2 năm so với kế hoạch 5 năm Chính phủ giao.
Doanh thu toàn Tập đoàn tăng bình quân 12,8%/năm; tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh hàng năm tương đương 7,5% chi phí định mức, riêng năm 2020 dự kiến tiết kiệm được 10%. Đến cuối năm 2019, tổng giá trị tài sản toàn Tập đoàn đạt 721.460 tỷ đồng (tăng 12,5% so với năm 2015); trong đó, vốn chủ sở hữu là 226.449 tỷ đồng (tăng 21,6%).

Trong công tác sắp xếp, đổi mới, cơ cấu lại doanh nghiệp, 5 năm qua, Tập đoàn đã hoàn thành thoái toàn bộ vốn tại các doanh nghiệp ngoài ngành nghề kinh doanh chính như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản để tập trung vào lĩnh vực hoạt động chính là sản xuất kinh doanh điện năng và tư vấn điện. Đồng thời, tập trung triển khai xây dựng Đề án tổng thể sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp thuộc EVN giai đoạn 2017-2020. 

Về công tác cổ phần hóa, tính đến hết năm 2019, Tập đoàn đã hoàn thành cổ phần hóa Tổng công ty Phát điện 3, còn lại 02 Tổng công ty Phát điện 1, 2 đã thực hiện các thủ tục như: hoàn thành phê duyệt phương án sắp xếp, xử lý nhà đất và phương án sử dụng đất, đã phê duyệt kế hoạch, tiến độ cổ phần hóa; công bố giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa EVNGENCO2.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho hay, giai đoạn 2020 – 2025 tới, EVN sẽ tiếp tục nỗ lực sản xuất kinh doanh hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn; tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp trên nền tảng đổi mới, phát triển có trình độ công nghệ, quản trị hiện đại, chuyên môn hoá cao; đảm bảo cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia./.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục