BNEWS Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam vừa hoàn thiện sẽ giúp doanh nghiệp tránh được cáo buộc “gian lận xuất xứ”.
Thông tin này được Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh khẳng định tại Hội thảo "Xin ý kiến rộng rãi của các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng về dự thảo Thông tư quy định cách xác định sản phẩm, hàng hoá là hàng hoá, sản phẩm của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam” do Bộ Công Thương tổ chức ngày 25/9 tại Hà Nội.
Đảm bảo tính minh bạch trong sản xuất
Theo Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, dự thảo Thông tư ra đời trong bối cảnh hiện nay có nhiều loại sản phẩm, hàng hoá nhập khẩu linh kiện từ nước ngoài về Việt Nam lắp ghép, gia công nhưng lại ghi nhãn là hàng “Made in Vietnam” khiến dư luận phản ứng.
Chính vì vậy, ngay từ đầu tháng 8, Bộ Công Thương đã hoàn thành dự thảo Thông tư và đăng tải công khai nhằm lấy ý kiến rộng rãi của mọi người dân, doanh nghiệp, bộ ngành liên quan. Sau đó, báo cáo Thủ tướng, rồi tiếp tục rà soát một lần nữa trước khi ban hành, đưa vào cuộc sống.
“Thông tư này sẽ không làm phát sinh chi phí cho doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp ghi nhãn chính xác hơn cho sản phẩm của mình tránh được nguy cơ bị cáo buộc là gian lận xuất xứ, loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm, đội lốt hàng Việt Nam". Thứ trưởng Trần Quốc Khánh nhấn mạnh.
Chia sẻ về tính cấp thiết của Thông tư, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho hay, nhiều sản phẩm, hàng hoá Việt Nam đã mang tính quốc gia, chất lượng tăng lên, có thương hiệu, tạo niềm tin cho người tiêu dùng nên dẫn tới tình trạng hàng hoá “đội lốt” hàng Việt Nam.
Mặt khác, không ít doanh nghiệp đem hàng nước ngoài về nhưng gia công sơ sài rồi dán nhãn "Made in Việt Nam" vào thì sẽ có sự cạnh tranh không tốt, gây ra sự chèn ép với hàng hóa trong nước...
Do đó, việc xây dựng Thông tư này phục vụ cho việc xác định hàng hóa Việt Nam nên doanh nghiệp có thể dán nhãn hoặc không dán nhãn nhưng vẫn thể hiện được hàng Việt.
Đặc biệt, nguyên tắc quan trọng của Thông tư này là không tạo ra thủ tục hành chính nào cho doanh nghiệp.
Theo ông Trần Thanh Hải, Việt Nam đã ban hành nhiều quy định về xuất xứ hàng hóa, trong đó có việc như thế nào thì một sản phẩm được coi là có xuất xứ Việt Nam.
Tuy nhiên, các quy định này mới chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu, giúp hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu theo cam kết tại các hiệp định thương mại tự do hoặc phục vụ các mục tiêu khác của quản lý ngoại thương.
Với hàng hóa sản xuất, bao gồm cả sản xuất từ đầu vào nhập khẩu, và sau đó lưu thông trong nước, hiện chưa có quy định như thế nào thì được gắn nhãn "sản phẩm của Việt Nam" hay "sản xuất tại Việt Nam".
Bên cạnh đó, việc thiếu vắng các quy định về việc như thế nào thì một sản phẩm được coi là “sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam” đã khiến nhiều tổ chức và cá nhân lúng túng khi muốn ghi chính xác nước xuất xứ trên nhãn sản phẩm theo quy định của Nghị định 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hoá (Nghị định 43).
Thực tế, một số mặt hàng dù chỉ trải qua các công đoạn gia công, lắp ráp, chế biến đơn giản tại Việt Nam nhưng cũng gắn nhãn "sản xuất tại Việt Nam" khiến người tiêu dùng thắc mắc, thậm chí bức xúc nhưng các cơ quan chức năng lại không có căn cứ để phân xử.
Để khắc phục các bất cập đó, cần xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật về việc như thế nào thì một sản phẩm, hàng hóa được coi là “sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam”.
Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, sau 1 năm trao đổi với các Bộ, ngành hữu quan về cơ sở pháp lý cũng như hình thức văn bản, Bộ Công Thương đã hoàn thành dự thảo ban đầu dưới hình thức Thông tư.
"Thông tư này đưa ra chuẩn mực để doanh nghiệp làm thước đo chuẩn và biết được như thế nào thì một sản phẩm, hàng hóa được coi là “sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam” ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh.
Bà Trần Thị Thu Hương, Giám đốc Trung tâm xác nhận chứng từ thương mại (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) cho biết, thời gian vừa qua có rất nhiều sự vụ hàng hóa gắn nhãn mác “Made in Vietnam” khiến doanh nghiệp và các cơ quan quản lý lúng túng trong việc phân định đúng sai và xử lý vi phạm.
Đáng lưu ý, khi quay lại tất cả các văn bản của Việt Nam thì chưa hề có văn bản nào quy định hàng hóa như thế nào được sản xuất tại Việt Nam.
Do vậy, vấn đề ghi nhãn hàng hóa là rất lớn, không riêng gì đối với hàng hóa sản xuất lưu thông tại thị trường Việt Nam mà còn liên quan đến hàng hóa sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu đi thị trường nước ngoài.
Hơn nữa, khi hàng hóa Việt Nam xuất khẩu thì một trong những yêu cầu từ các nước này là phải có quy định về gắn nhãn mác khi xuất khẩu vào thị trường của quốc gia đó.
Theo dự thảo thông tư, các trường hợp được coi là hàng hoá của Việt Nam gồm hàng hoá có xuất xứ thuần tuý hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định tại Điều 8 Thông tư này (10 trường hợp); Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hoá theo quy định tại Điều 9 Thông tư này (theo danh mục phụ lục ban hành cùng thông tư).
Còn nhiều băn khoăn
Liên quan đến việc gắn nhãn mác, bà Trần Thị Thu Hương chỉ ra rằng đã có Nghị định 43/2017/NĐ-CP của Chính phủ về nhãn hàng hoá quy định rất rõ về phạm vi điều chỉnh việc ghi nhãn mác.
Ngoài ra, khi xây dựng dự thảo này, các quy tắc xuất xứ tương đồng với Nghị định 31/2008/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Ngoại thương về xuất xứ hàng hóa và Thông tư 05/2019/TT-BKHCN quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 43.
Do đó, nên xem xét có cần phải ban hành dự thảo này hay không hay tập trung vào việc mở rộng Thông tư cho hàng hóa lưu thông tại Việt Nam, bà Hương đề nghị.
Góp ý cho dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam, đại diện Bộ Tư pháp cho rằng, việc ban hành quy định cụ thể về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam là cần thiết.
Điều này nhằm bảo vệ thương hiệu hàng hóa của Việt Nam, hạn chế gian lận, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, dự thảo Thông tư có chứa đựng những quy định về yêu cầu, tiêu chí để sản phẩm, hàng hóa được xác định là hàng hóa của Việt Nam.
Tức là chứa đựng những quy định về điều kiện mà theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì không thể ban hành dưới hình thức Thông tư của Bộ trưởng. Với nội dung của Thông tư cần ban hành dưới hình thức Nghị định của Chính phủ.
Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì soạn thảo không nên quy định lại các nội dung đã được thể hiện tại Nghị định số 31/2018/NĐ-CP mà cần có sự hướng dẫn cụ thể hơn để bảo đảm yêu cầu của khoản 2 Điều 8 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Tại các khoản 1, 2, 3, 4,7, 9 Điều 3 dự thảo Thông tư giải thích lại các từ ngữ đã được quy định tại các khoản 11, 12, 13, 14, 9, 15 Điều 3 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP.
Hơn nữa, tại Điều 8 dự thảo Thông tư về cơ bản giữ nội dung quy định lại Điều 7 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP, chỉ sửa đổi kỹ thuật theo hướng thay thế cụm từ "nước", "nhóm nước", "vùng lãnh thổ" thành cụm từ "Việt Nam". Thay vì thế, cơ quan chủ trì soạn thảo nên làm rõ hơn về các trường hợp được liệt kê tại Điều này.
Ngoài ra, có ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát lại dự thảo Thông tư để đảm bảo đúng thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định tại Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Chương V Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Tiếp thu những ý kiến đóng góp tại hội thảo, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh đánh giá cao những đóng góp thiết thực giúp Bộ Công Thương nhận ra những điểm còn thiếu sót cũng như các ý tưởng mới trong cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam phù hợp với thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thực tế.
Do vậy, Bộ Công Thương tiếp thu và có những sửa đổi phù hợp. Tuy nhiên, với những vấn đề vượt quá phạm vi Thông tư, Bộ Công Thương sẽ cân nhắc báo cáo xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ trước khi Thông tư ban hành./.
Tin liên quan
Asanzo thông tin chính thức về vụ việc liên quan đến nghi vấn gian lận xuất xứ hàng hóa
Việc điều tra của cơ quan chức năng, đến nay vẫn chưa có kết luận chính thức và khi nào có kết luận sẽ công bố với báo chí.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamThương mại Việt Nam - Israel hướng tới mốc 4 tỷ USD
Nếu thị trường quốc tế không có biến động lớn trong những tháng cuối năm, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Israel năm 2026 dự báo sẽ vượt 3,9 tỷ USD, cao hơn mức gần 3,65 tỷ USD năm 2025.
-
Kinh tế Việt NamBiến tài sản công dôi dư thành nguồn lực tăng trưởng - Bài cuối: Cách Nhật Bản “đánh thức” nhà đất bỏ trống
Nhật Bản chuyển từ tư duy “có tài sản thì giữ” sang tư duy “tài sản công phải được quản lý như một danh mục đầu tư”.
-
Kinh tế Việt NamBiến tài sản công dôi dư thành nguồn lực tăng trưởng - Bài 3: Khi trụ sở cũ bước vào “vòng đời mới”
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, hàng trăm cơ sở nhà, đất công ở TP Hồ Chí Minh đang được rà soát, bố trí lại theo hướng ưu tiên chuyển đổi thành bệnh viện, trường học, các công trình phục vụ cộng đồng.
-
Kinh tế Việt NamDồn lực bứt phá để đạt tăng trưởng hai con số
Lãnh đạo một số tỉnh, thành phố đã làm rõ bức tranh kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, khẳng định quyết tâm thực hiện thắng lợi mức tăng trưởng hai con số trong năm 2026.
-
Kinh tế Việt NamBiến tài sản công dôi dư thành nguồn lực tăng trưởng - Bài 2: Phá thế ách tắc cho nhà, đất "đóng băng"
Có những trụ sở đã hoàn thành kiểm kê, phương án xử lý cũng đã được xây dựng, nhưng nhiều tháng sau vẫn đóng cửa vì còn chờ hoàn tất thủ tục.
-
Kinh tế Việt NamBiến tài sản công dôi dư thành nguồn lực tăng trưởng - Bài 1: Hơn 11.000 cơ sở nhà, đất đang chờ "đánh thức"
Sau 1 năm sắp xếp và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, quá trình tinh gọn bộ máy đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
-
Kinh tế Việt NamTây Ninh đặt mục tiêu tăng trưởng xanh, đưa GRDP tăng hơn 10%/năm
Giai đoạn 2026 - 2030, Sở Công Thương Tây Ninh đặt mục tiêu cụ thể hóa các chỉ tiêu được Bộ Công Thương và UBND tỉnh giao, góp phần cùng tỉnh phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP 10 - 10,5%/năm.
-
Kinh tế Việt NamBắc Ninh dẫn đầu cả nước về tỷ trọng kinh tế số trong GRDP
Theo Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Bắc Ninh, tính đến tháng 6 năm 2026, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của Bắc Ninh đã đạt tới 46,3%.
-
Kinh tế Việt NamKhai mạc Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương
Sáng 4/7, Chính phủ tổ chức Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương dưới hình thức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ,














