Gỡ "điểm nghẽn" hạ tầng số

20:01' - 20/04/2026
BNEWS Chiều 20/4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp, chiều 20/4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030.

 

Đầu tư có trọng tâm, có liên kết và khả năng lan tỏa

Tại nghị trường, nêu ý kiến thảo luận về hạ tầng số chưa phát triển đồng bộ tại các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Lý Thị Lan (Tuyên Quang) cho rằng, nguyên nhân không chỉ do khoảng cách công nghệ, mà chủ yếu là thiếu các điều kiện hạ tầng cơ bản, nhất là điện, viễn thông và cơ chế đầu tư công chưa phù hợp với đặc thù địa bàn. Bản chất chuyển đổi số ở miền núi không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà là phương thức rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Khi triển khai hiệu quả, khả năng tiếp cận dịch vụ công, giáo dục, y tế và thị trường được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong điều kiện địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư hạ tầng lớn, việc triển khai vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu.

Dẫn ví dụ tại tỉnh Tuyên Quang, đại biểu Lý Thị Lan cho hay, sau hợp nhất, địa bàn rộng hơn, yêu cầu quản trị cao hơn, nhưng vẫn còn 41 thôn chưa có điện; 337 thôn, xóm có điện nhưng chưa ổn định; 199 thôn còn khó khăn về tiếp cận sóng viễn thông. Hạ tầng cơ sở còn thiếu đồng bộ. Toàn tỉnh có hơn 300 trạm BTS và 100% trung tâm xã có phủ sóng, nhưng chưa bảo đảm khả năng tiếp cận đồng đều cho người dân ở các vùng, thôn, bản khó khăn.

“Ở miền núi chưa thể nói đến chính quyền số, kinh tế số hay xã hội số một cách đầy đủ nếu nền tảng điện và viễn thông chưa bảo đảm ổn định. Đây là vấn đề kỹ thuật, đồng thời là điểm nghẽn trong cấu trúc phát triển”, đại biểu nhấn mạnh.

Cũng theo đại biểu Lý Thị Lan, “điểm nghẽn nằm ở hạ tầng cơ sở”, vì vậy, vấn đề đặt ra trong xây dựng chính sách không chỉ là tăng thêm nguồn lực, mà quan trọng là thiết kế chính sách và tổ chức thực hiện phù hợp với đặc thù hạ tầng số miền núi, biên giới. Do đó, đại biểu đề xuất Chính phủ rà soát, hoàn thiện định mức đầu tư hạ tầng số theo hướng phân biệt rõ địa bàn đặc biệt khó khăn; tính đúng, tính đủ chi phí đầu tư, vận hành và bổ sung hệ số điều chỉnh phù hợp. Song song đó, tổ chức đầu tư theo hướng tích hợp điện, viễn thông, hạ tầng số trong cùng một chương trình, dự án; lồng ghép các nguồn lực hiện có và xác định rõ đầu ra đến từng thôn, bản. Đồng thời, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách viễn thông công ích, đồng thời tăng cường vai trò đầu tư của Nhà nước tại các vùng đặc biệt khó khăn.

Liên quan đến điều chỉnh quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc giai đoạn 2012-2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo đại biểu Lý Thị Lan, việc điều chỉnh này đã định hướng quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc, các hành lang phát triển đã hình thành, tuy nhiên vai trò kết nối của một số địa phương, trong đó Tuyên Quang vẫn còn có dư địa thì cần làm rõ hơn. Đại biểu cho rằng, điều này không chỉ định hướng phát triển mà còn tác động trực tiếp đến khả năng thu hút và phân bổ nguồn lực đầu tư trong thực tiễn với vị trí địa lý đặc thù, có điều kiện để trở thành điểm kết nối giữa giữa các không gian phát triển. Việc xác định rõ vai trò của từng địa phương trong quy hoạch vùng không chỉ là yêu cầu về mặt quy hoạch, còn là điều kiện đảm bảo đầu tư có trọng tâm, có liên kết và có khả năng lan tỏa.

“Vì vậy, tôi đề nghị Chính phủ cần tiếp tục rà soát, cụ thể hóa vai trò của các địa phương miền núi trong quy hoạch vùng gắn với chức năng kết nối và lan toả”, đại biểu Tuyên Quang nhấn mạnh.

Thảo luận tại nghị trường, đại biểu Trần Văn Khải (Ninh Bình) nêu ra 5 khó khăn, vướng mắc và đề xuất một số giải pháp trọng tâm trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030. Đáng chú ý, đại biểu Ninh Bình kiến nghị nhóm giải pháp trọng tâm cho vấn đề này là cần tiếp tục đổi mới thể chế, phát triển hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường giám sát trong quá trình thực hiện. Đồng thời, thiết lập cơ chế quản trị danh mục dự án theo mô hình quản lý danh mục tập trung trên nền tảng dùng chung, tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp; yêu cầu dữ liệu phải chuẩn, đúng, đủ, sạch, “sống” và thống nhất sử dụng và phải dự toán đủ chi phí cho vận hành, bảo trì để hệ thống hoạt động liên tục, ổn định.

Theo đại biểu, trên cơ sở đó, có thể xây dựng danh mục dự án trọng điểm thực hiện theo kiến trúc tổng thể quốc gia. Cùng với đó, triển khai mô hình tiêu chuẩn mở, nghiệm thu theo chỉ số đầu ra, như mức độ liên thông dữ liệu, tỷ lệ sử dụng chung, độ sẵn sàng của dịch vụ; đồng thời áp dụng mua sắm theo kết quả nhằm rút ngắn chu kỳ thiết kế, đấu thầu, khắc phục tình trạng phụ thuộc nhà thầu công nghệ.

Đại biểu Ninh Bình cũng kiến nghị về hoàn thiện thể chế đối với tài sản vô hình, mua sắm đổi mới sáng tạo; cho phép cơ chế đặt hàng, khoán chi, thử nghiệm có kiểm soát đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và dữ liệu số; quy định rõ quản trị rủi ro, trách nhiệm giải trình và cơ chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chung. Đồng thời, coi an ninh mạng là cấu phần bắt buộc trong các dự án sử dụng ngân sách; bảo đảm an toàn ngay từ khâu thiết kế; dự toán đầy đủ cho giám sát, sao lưu, khôi phục và chuyển dữ liệu độc lập; ưu tiên đầu tư các nền tảng dữ liệu định danh, dữ liệu y tế, giáo dục.

Bên cạnh đó, theo đại biểu là đầu tư cho con người, bởi đây là nội dung cấp bách hiện nay và dành nguồn lực đào tạo đội ngũ quản lý dự án số, thu hút chuyên gia; đồng thời huy động nguồn vốn từ khu vực tư nhân tham gia.

Đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông trên cả 5 lĩnh vực

Cũng trong phiên thảo luận hội trường chiều 20/4, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã giải trình, làm rõ thêm một số ý kiến đại biểu Quốc hội nêu liên quan đến hạ tầng giao thông. Theo Bộ trưởng, Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã khẳng định phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông là một trong những động lực để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Thực hiện định hướng này, ngành Xây dựng đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông trên cả 5 lĩnh vực.

Ở lĩnh vực đường bộ, theo quy hoạch đến năm 2050, cả nước có 43 tuyến cao tốc với tổng chiều dài khoảng 8.993km; trong đó, 6.539km được đầu tư trước năm 2030; số còn lại được đầu tư giai đoạn 2030-2050. Tính đến nay, cả nước đã khai thác và thông xe kỹ thuật khoảng 3.345 km, 458km nút giao.

Về quy mô đầu tư, có 548 km cao tốc 2 làn xe (chiếm 16%); 1.559 km cao tốc 4 làn xe hạn chế (chiếm 47%) và 1.238 km cao tốc 4-6 làn xe hoàn chỉnh (chiếm 37%). Về phương thức đầu tư, có 2.458km được đầu tư công và 860km đầu tư theo hình thức công tư PPP; hiện đang triển khai chuyển tiếp 1.252km, dự kiến hoàn thành vào năm 2027.

Tính đến hết năm 2025, mật độ cao tốc trên cả nước đạt khoảng 2,23km/100km2. Tuy nhiên, còn chênh lệch lớn giữa các vùng, trong khi đồng bằng sông Cửu Long đạt 4,43km/100km2, thì 14 tỉnh cũ biên giới phía Bắc chỉ đạt 0,58km/100km2.

Giai đoạn 2026-2030, dự kiến tập trung nguồn lực đầu tư, nâng cấp khoảng 1.721km cao tốc, trong đó có nâng cấp cao tốc 2 làn xe, 4 làn xe hạn chế lên 6 làn xe theo đúng quy hoạch, với nhu cầu vốn khoảng 802.868 tỷ đồng.

Đối với hệ thống quốc lộ, Bộ trưởng cho biết, hiện cả nước có 24.376km. Thực hiện chủ trương phân cấp, từ 1/7/2025, Bộ Xây dựng đã chuyển giao phân cấp 17.520km cho địa phương quản lý; Bộ hiện còn quản lý 4.875km, chủ yếu là các tuyến BOT và một số dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh.

Về đường bộ ven biển, hiện nay đã hoàn thành 1.701km (khoảng 60%), đang triển khai thi công 340km tại 10 tỉnh, thành. Từ đó, Bộ trưởng đề nghị các địa phương khẩn trương triển khai hoàn thành trong năm 2026. Ngoài ra, trong giai đoạn 2026-2030, cần tiếp tục đầu tư thêm 772km đường bộ ven biển để hoàn thành đồng bộ toàn tuyến.

Ở lĩnh vực đường sắt, theo quy hoạch, mạng lưới gồm 25 tuyến với tổng chiều dài 6.658km. Hệ thống đường sắt quốc gia hiện nay chủ yếu khổ 1.000mm, được xây dựng từ lâu; riêng tuyến Hà Nội - Lạng Sơn sử dụng khổ tiêu chuẩn 1.435mm. Thời gian tới, sẽ tập trung phát triển các tuyến đường sắt quốc gia như: Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh; Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội - Lạng Sơn; Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái; Thành phố Hồ Chí Minh- Cần Thơ - Cà Mau...

Đối với đường sắt đô thị, đến nay cả nước đã hoàn thành 3 tuyến với tổng chiều dài khoảng 41km. Trong giai đoạn tới, Hà Nội dự kiến phát triển 18 tuyến với 1.052km, Thành phố Hồ Chí Minh đầu tư xây dựng 12 tuyến với 1.72km. Tổng chiều dài khoảng 2.224km/ 30 tuyến, nhu cầu vốn cần khoảng 743.907 tỷ đồng.

Đối với lĩnh vực hàng không, Bộ trưởng cho biết, theo quy hoạch đến năm 2030 cả nước có 31 cảng hàng không (gồm 15 cảng quốc tế, 16 cảng nội địa), công suất khoảng 294 triệu hành khách/năm; định hướng đến năm 2050 có 34 cảng, công suất khai thác 533 triệu hành khách/năm.

Đến nay, cả nước có 22 cảng hàng không với tổng công suất khoảng 155 triệu hành khách/năm, tăng 1,6 lần so với nhiệm kỳ trước. Về định hướng phát triển, trong số 31 cảng hàng không theo quy hoạch sẽ có 6 cảng cấp 4F, 1 cảng cấp 4C, các cảng còn lại cấp 4E.

Về đầu tư, Bộ trưởng cho biết, định hướng sẽ giảm tỷ trọng đầu tư công, tập trung các dự án nâng cấp sửa chữa; tăng cường huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là các dự án PPP và đầu tư tư để phát triển cảng hàng không.

Đối với lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa, Bộ trưởng Trần Hồng Minh thông tin: Cả nước hiện có 309 bến cảng với tổng chiều dài khoảng 107km, trên 3.200km đường biển; cùng 44 bến cảng dầu khí ngoài khơi. Năng lực hệ thống cảng đạt khoảng 955 triệu tấn/năm, tăng 1,3 lần so với năm 2020.

Về kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa, thời gian qua đã cải tạo 17 tuyến vận tải, nâng tĩnh không 7 cầu đường bộ cắt qua các tuyến đường thủy nội địa quốc gia và các khu logistics; hiện có 310 cảng thủy nội địa. Giai đoạn 2026-2030, định hướng tiếp tục xã hội hóa đầu tư cảng biển. Về phía Bộ Xây dựng sẽ tập trung vào phát triển, khơi thông hệ thống luồng tuyến; cùng với đó là đẩy mạnh phân cấp các cảng thủy nội địa về địa phương quản lý, đầu tư.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục