Kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật để nâng chuẩn nông sản xuất khẩu

  • Anh Nguyễn (thực hiện)

BNEWS Trao đổi với phóng viên TTXVN, Chủ tịch VIPA Nguyễn Văn Sơn đã chia sẻ các giải pháp để quản lý hiệu quả thuốc bảo vệ thực vật, từ đó nâng cao chất lượng cho nông sản xuất khẩu của Việt Nam.

Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam (VIPA) Nguyễn Văn Sơn. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn

Thuốc bảo vệ thực vật là vật tư đầu vào quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nhưng việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật sẽ là “con dao hai lưỡi” gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, môi trường cũng như chất lượng nông sản. Trao đổi với phóng viên TTXVN, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam (VIPA) Nguyễn Văn Sơn đã chia sẻ các giải pháp để quản lý hiệu quả thuốc bảo vệ thực vật, từ đó nâng cao chất lượng  cho nông sản xuất khẩu của Việt Nam.

Phóng viên: Thưa ông thuốc bảo vệ thực vật có vai trò như thế nào đối với sản xuất nông nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi ngành nông nghiệp đang đối mặt với các tác động của biến đổi khí hậu và dịch hại gia tăng?

Chủ tịch VIPA Nguyễn Văn Sơn: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một biện pháp quan trọng nhằm diệt trừ sinh vật gây hại cây trồng nhanh, triệt để, có thể chặn đứng dịch hại trong thời gian ngắn, đem lại nhiều lợi ích kinh tế, kỹ thuật cho nhà nông, từ đó bảo vệ hiệu quả năng suất, chất lượng cây trồng và nông sản.

Tại Việt Nam, thuốc BVTV đã được sử dụng từ năm 1956 do Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng có điều kiện thuận lợi để phát sinh – phát triển. Đặc biệt, biến đổi khí hậu trên toàn cầu đã dẫn đến một số loài côn trùng gây hại di chuyển và phát triển mạnh ở những vùng mới mà trước đây không phù hợp để chúng sinh tồn; hoặc thúc đẩy các tác nhân gây bệnh như bệnh cháy lá do nấm hại cây trồng. Vì vậy, việc sử dụng đúng thuốc BVTV sẽ giúp phòng trừ sinh vật gây hại cây trồng hiệu quả, bảo vệ mùa màng, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Theo thống kê của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), nếu không có thuốc BVTV, thiệt hại với sản xuất nông nghiệp ước tính từ 30% - 50% năng suất tùy theo loại cây trồng.

Phóng viên: Thuốc bảo vệ thực vật được thế giới coi là hàng hoá đặc biệt cần kiểm soát chặt chẽ từ khâu sản xuất kinh doanh đến sử dụng. Vậy xin ông cho biết việc kiểm soát thuốc BVTV tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?

Chủ tịch VIPA Nguyễn Văn Sơn: Thuốc BVTV là hàng hóa đặc biệt, có điều kiện nên chỉ có những loại thuốc BVTV nằm trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam mới được phép kinh doanh, sản xuất và sử dụng. Việc quản lý thuốc BVTV được thực hiện chặt chẽ qua các khâu: Đăng ký, buôn bán và sử dụng nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Hiện tiêu chuẩn đánh giá an toàn thuốc BVTV tại Việt Nam rất chặt chẽ và đang theo sát với chuẩn đánh giá thuốc BVTV trên thế giới.

Cụ thể, việc quản lý thuốc BVTV tại Việt Nam được thực hiện theo Hướng dẫn của FAO; hài hòa các nguyên tắc quản lý thuốc BVTV của các nước ASEAN; Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước Rotterdam, Công ước Stockhom, Công ước Basel và Nghị định thư Montreal).

Việc quản lý thuốc BVTV tại Việt Nam cũng được quy định tại các luật và văn bản dưới luật gồm: Luật  Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật; Luật Hóa chất; Luật chất lượng và sản phẩm hàng hóa; Luật An toàn thực phẩm; Luật Bảo vệ Môi trường; Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 6/5/2016 của Chính phủ: Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 66/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ: Quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm…và hơn 600 tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về kiểm định chất lượng, dư lượng và khảo nghiệm thuốc BVTV. 

Hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng và ban hành Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam hiệu quả, an toàn và hiện đại, đáp ứng yêu cầu sản xuất ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã khuyến khích đầu tư nghiên cứu sản xuất, phát triển và  đăng ký sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học tiên tiến, ít độc hại cho sức khỏe con người và môi trường.

Phóng viên: Vậy theo ông đâu là giải pháp quan trọng để đảm bảo việc sử dụng thuốc BVTV hiệu quả, an toàn với sức khoẻ con người và môi trường?

Chủ tịch VIPA Nguyễn Văn Sơn: Thuốc BVTV được sử dụng phải nằm trong “Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành hàng năm và phù hợp với các chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), Quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) và thực hành Nông nghiệp Tốt (GAP); trong đó điểm nổi bật là sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc “Bốn đúng” gồm: Đúng thuốc, đúng liều lượng hoặc nồng độ, đúng thời điểm, đúng kỹ thuật và phải đảm bảo đúng thời gian cách ly trước khi thu hoạch nông sản.

Để bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất, sử dụng nông sản và an toàn môi trường, các công ty sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV cần phải tiếp tục cải tiến các phương pháp sản xuất thuốc BVTV, đưa ra thị trường các dạng chế phẩm có hiệu lực phòng trừ cao, thân thiện với môi trường, nhất là các thuốc BVTV sinh học, các nhóm thuốc BVTV hóa học tiên tiến…

Đặc biệt, người sử dụng thuốc không tuỳ tiện pha trộn thuốc, không phun thuốc định kỳ nhiều lần mà phải dựa vào tình hình sinh vật gây hại cụ thể để tránh lãng phí, tránh tồn dư thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường cũng như tránh tình trạng “kháng thuốc” của dịch hại.

Sầu riêng Đắk Lắk được dán tem, sẵn sàng xuất khẩu. Ảnh: Hoài Thu - TTXVN

Phóng viên: Thời gian gần đây, nhiều lô hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đã bị trả về do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật. Vậy VIPA có đề xuất gì để tháo gỡ những khó khăn này, từ đó thúc đẩy ngành hàng xuất khẩu quan trọng này, thưa ông?

Chủ tịch VIPA Nguyễn Văn Sơn: Về vấn đề này, hiện cơ quan chức năng đang tích cực tháo gỡ các rào cản trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam thông qua việc thiết lập Mức dư lượng tối đa cho phép đối với các loại thuốc BVTV trên các đối tượng cây trồng xuất khẩu chưa có; Mức dư lượng tối đa cho phép tại các nước nhập khẩu.

Với vai trò tư vấn phản biện và cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý, VIPA đã phối hợp với các hiệp hội quốc tế như CropLife và nhiều đối tác triển khai rất nhiều chương trình tập huấn với hình thức khác nhau tại Việt Nam, trong đó có những lớp tập huấn trên từng đối tượng cây trồng và sinh vật gây hại cụ thể. Chúng tôi cũng có những hoạt động tập huấn riêng về IPM, IPHM phối hợp cùng Cục BVTV và đối tác trong chuỗi giá trị nông sản.

Trong tháng 6 vừa qua, VIPA đã có báo cáo chuyên đề đạt giải xuất sắc về vấn đề quản lý dư lượng thuốc BVTV và kim loại nặng trên sầu riêng và cà phê. VIPA sẽ tiếp tục phối hợp với Viện Bảo vệ thực vật, Hiệp hội Phân bón Việt Nam trong việc hợp tác với Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk nhằm xây dựng quy trình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong chăm sóc cây sầu riêng, từ đó cho quả sầu riêng có chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, đảm bảo an toàn với sức khoẻ con người cũng như môi trường.

Thời gian gần đây, nhiều lô hàng sầu riêng của Việt Nam không xuất khẩu được do tồn dư chất vàng O và Cadimi (kim loại nặng). Với vai trò tư vấn, VIPA sẽ phối hợp với một số cơ quan chức năng trong việc tập huấn nông dân nâng cao hiểu biết về sản xuất nông sản an toàn; xây dựng các giáo trình tập huấn về việc sử dụng thuốc BVTV an toàn hiệu quả, đảm bảo nguyên tắc “Bốn đúng” và có thời gian cách ly hợp lý.

Để tránh tình trạng hàng nông sản xuất khẩu bị trả về do vi phạm các quy định của nước nhập khẩu, VIPA cũng đề xuất các địa phương thực hiện sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị để đảm bảo truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch trong các khâu như: Cấp mã số vùng trồng, cấp giấy phép đóng gói, quản lý dư lượng cadimi và vàng O…

VIPA cũng tiếp tục hợp tác với Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), các Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tại các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn trái xuất khẩu để có các giải pháp kỹ thuật hiệu quả xử lý vấn đề dư lượng cadimi và vàng O.

Tuy nhiên, vấn đề dư lượng cadimi và vàng O trên sầu riêng hay dư lượng thuốc BVTV trên nông sản là vấn đề lớn liên quan đến rất nhiều bên. Vì vậy, tôi cho rằng nhà nước cần có quy định rõ ràng hơn về quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan từ trung ương đến địa phương, từ nhà sản xuất đến các cơ sở đóng gói, cơ quan phân tích chất lượng nông sản , cơ quan cấp phép…Ngoài ra, việc đẩy mạnh áp dụng công nghệ số trong quản lý theo chuỗi giá trị với sản xuất nông sản cũng chính là giải pháp quan trọng để đảm bảo tính minh bạch, tiết kiệm thời gian và chi phí trong chuỗi giá trị này.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

Anh Nguyễn (thực hiện)

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục