BNEWS Tỷ lệ xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU mới chiếm khoảng 4,2% thị phần, nên dư địa để Việt Nam xuất khẩu mặt hàng này sang EU là rất lớn.
Sáng 27/12, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị Tổng kết 2 năm thực thi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA): Những thành quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại và giải pháp tận dụng hiệu quả. Tại hội nghị, bên cạnh chỉ ra những thành tựu trong tận dụng hiệu quả thị trường châu Âu, các chuyên gia và doanh nghiệp cũng nêu những tồn tại, giải pháp khắc phục để xuất khẩu sâu hơn vào thị trường này.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, sau hơn 2 năm (1/8/2020-12/2022) thực hiện Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu, tăng trưởng xuất nhập khẩu 2 chiều Việt Nam, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Đặc biệt, mặc dù EVFTA được thực thi vào thời điểm đại dịch COVID-19 diễn ra phức tạp không chỉ ở Việt Nam mà còn ở châu Âu và trên toàn thế giới nhưng trao đổi thương mại hai chiều nói chung và xuất khẩu sang EU nói riêng vẫn tăng trưởng ấn tượng. Cụ thể, theo Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, trong năm đầu thực thi EVFTA, trao đổi thương mại song phương đạt 54,9 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu đạt 34,5 tỷ USD, tăng 11,3%. Sang năm thứ hai đạt 61,4 tỷ USD, tăng gần 11,9%; trong đó xuất khẩu đạt 45 tỷ USD, tăng 17%. Riêng trong 11 tháng năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt 57 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu đạt 43,5 tỷ USD, tăng 21%. Đáng chú ý, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều ghi nhận mức tăng trưởng rất tích cực như dệt may (tăng 24%), giày dép (tăng 19%), thủy sản (tăng 41%)… “Một điểm sáng nữa trong hoạt động xuất khẩu sang EU là tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ EVFTA. Năm 2021, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sử dụng mẫu C/O Euro.1 đạt khoảng 8,1 tỷ USD, chiếm khoảng 20,2% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang EU, tăng 244% so với cùng kỳ năm trước. Trong 10 tháng năm 2022, tỷ lệ tận dụng ưu đãi là 25,1%, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2021”, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh nhấn mạnh. Những kết quả tích cực nói trên cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng tương đối hiệu quả các cơ hội từ EVFTA. Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, có 4/10 doanh nghiệp Việt Nam đã từng hưởng lợi từ EVFTA. Điều đó cho thấy những nỗ lực không mệt mỏi của các cơ quan quản lý ở cấp trung ương và địa phương, các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp trong suốt thời gian qua đã “đơm hoa kết trái”. Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực sau 2 năm thực thi EVFTA, song theo Bộ Công Thương, những thành công trên chỉ là bước đầu. Dư địa và cơ hội từ thị trường EU còn rất rộng lớn, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc khi tiếp cận thị trường này, cả về lý do chủ quan và khách quan. Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho hay, thương hiệu Việt Nam chưa được xây dựng hoặc chưa được biết đến nhiều tại các nước châu Âu, giá trị và lợi ích mà các doanh nghiệp Việt Nam thu về còn chưa tương xứng với tiềm năng.Trao đổi sâu hơn về nội dung này, ông Ngô Chung Khanh – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho biết, có 7 nhóm mặt hàng bao gồm cả công nghiệp và nông nghiệp là những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU, bao gồm: Máy vi tính; dệt may; máy móc và thiết bị; giày dép; rau quả tươi, rau củ quả chế biến; thuỷ sản (cá tra và các sản phẩm khác); gạo.
Theo đó, với mặt hàng rau quả tươi và rau củ quả chế biến, nếu không có EVFTA thì thuế suất sẽ ở mức cao nhất là 20%, nhưng nhờ thực thi EVFTA hiện phần lớn thuế đã về mức 0%. Tuy nhiên, tỷ lệ mặt hàng rau quả tươi, rau quả chế biến Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU hiện mới chiếm khoảng 2,7% thị phần tại EU, nên tiềm năng để doanh nghiệp Việt Nam đưa mặt hàng rau quả tươi, rau củ quả chế biến xuất khẩu vào EU là rất lớn. Tương tự với nhóm mặt hàng thuỷ sản (cá tra và sản phẩm khác), ông Ngô Chung Khanh cho rằng, mức thuế suất nếu không có EVFTA thì cũng ở mức 20%, tuy nhiên với cam kết từ EVFTA đã xoá bỏ thuế với 86,5% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 3 năm; xoá 90,3% kim ngạch trong 5 năm và 100% trong 7 năm. Đặc biệt, tỷ lệ xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU mới chiếm khoảng 4,2% thị phần, nên dư địa để Việt Nam xuất khẩu mặt hàng này sang EU là rất lớn. Về phía doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Hiếu – Giám đốc Kinh doanh xuất khẩu (Tập đoàn Lộc Trời) thừa nhận, còn nhiều dư địa để đưa gạo Việt Nam vào thị trường EU. Trên thực tế, thời gian qua, Tập đoàn này đã khai thác rất tốt thị trường EU. Cụ thể, năm 2018, Tập đoàn xuất khẩu vào thị trường EU hơn 2.000 tấn gạo; Năm 2019 là 8.000 tấn; Năm 2020 là 11.000 tấn; Năm 2021 là 12.000 tấn và năm 2022 tính đến thời điểm hiện tại là khoảng 24.000 tấn.Dư địa để doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU là rất lớn, tuy nhiên, để tăng tính bền vững khi xuất khẩu vào thị trường này, ông Nguyễn Văn Hiếu cho rằng, cần quan tâm đặc biệt đến vấn đề chất lượng. Cụ thể, cần kiểm soát chặt chẽ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật khi xuất khẩu vào thị trường này.
Đại diện Bộ Công Thương, ông Ngô Chung Khanh cho rằng, thời gian tới để doanh nghiệp tận dụng hiệu quả thị trường EU thông qua EVFTA, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành tập trung xử lý vấn đề kết nối cho doanh nghiệp thông qua cập nhật và nâng cấp cổng thông tin FTA (FTAP), để kết nối với toàn bộ trang thông tin điện tử của các bộ, ngành, hiệp hội. Ngoài ra, Bộ triển khai đánh giá việc thực thi FTA tại các tỉnh, thành phố thông qua chỉ số FTA INDEX, bộ chỉ số này dự kiến sẽ được công bố vào cuối năm 2023. Đặc biệt, Bộ Công Thương sẽ có các chương trình tập huấn dành cho các doanh nghiệp; thúc đẩy các giải pháp cụ thể như triển khai tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp tận dụng FTA, thúc đẩy kết nối, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tận dụng tối đa cơ hội từ EVFTA./.Tin liên quan
Tận dụng lợi thế từ Hiệp định EVFTA để xuất khẩu sang thị trường ngách
Mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 nhưng tổng kim ngạch thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và EU vẫn ghi nhận sự tăng trưởng liên tục ở cả góc độ xuất khẩu và nhập khẩu.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamTập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất sầu riêng
Văn phòng Chính phủ có văn bản số 421/TB-VPCP thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.
-
Kinh tế Việt NamCần hành trang pháp lý khi sáng tạo nội dung trên không gian số
Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, hoạt động sáng tạo nội dung đang mở ra cơ hội lớn cho KOC, KOL, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về hiểu biết và tuân thủ pháp luật.
-
Kinh tế Việt NamĐà Nẵng xây dựng năng lực xuất khẩu trực tuyến
Đà Nẵng xây dựng năng lực xuất khẩu trực tuyến
-
Kinh tế Việt NamCần Thơ khẩn cấp ứng phó sạt lở
Sạt lở bờ sông, kênh rạch và bờ biển diễn biến phức tạp, xuất hiện cả mùa mưa lẫn mùa khô, đe dọa trực tiếp tính mạng, tài sản, giao thông và các công trình thiết yếu.
-
Kinh tế Việt NamKết nối đa phương thức, tạo động lực mới cho hạ tầng giao thông Việt Nam
Khi hạ tầng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, những công trình được quyết định hôm nay sẽ định hình đất nước trong nhiều thập niên tới.
-
Kinh tế Việt NamKiểm soát chặt phát thải mê-tan ngay từ kho cảng nhập khẩu
Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) đang được xem là một trong những nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng trong lộ trình giảm phát thải khí nhà kính của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
-
Kinh tế Việt NamNghị quyết số 10-NQ/TW: Động lực 'hút' FDI vào kinh tế xanh
Cùng với thay đổi từ phía doanh nghiệp, mô hình các khu công nghiệp cũng đang dịch chuyển theo hướng sinh thái. Đây được xem là một yếu tố quan trọng để đáp ứng nhu cầu của thế hệ nhà đầu tư mới.
-
Kinh tế Việt NamCần Thơ báo động sạt lở, công bố tình huống khẩn cấp ở 4 xã, phường
UBND thành phố Cần Thơ vừa công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai, sự cố sạt lở nguy hiểm tại nhiều khu vực bờ sông, bờ kênh và bờ biển.
-
Kinh tế Việt NamTăng tốc thu hút khách quốc tế đến Việt Nam
Tăng trưởng du lịch trong giai đoạn mới không thể chỉ đo bằng số lượng khách mà cần quan tâm đến chất lượng dòng khách, thời gian lưu trú, mức chi tiêu, khả năng quay trở lại.











