TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy chăn nuôi tuần hoàn

  • Hương Giang/vnanet.vn

BNEWS Chăn nuôi tuần hoàn được xác định là hướng đi nhằm biến chất thải, phụ phẩm thành nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất khác.

Với hơn 42.000 cơ sở chăn nuôi và tổng đàn vật nuôi hơn 22,5 triệu con, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu vừa duy trì sản xuất, vừa kiểm soát lượng chất thải phát sinh ngày càng lớn. Chăn nuôi tuần hoàn được xác định là hướng đi nhằm biến chất thải, phụ phẩm thành nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất khác. Tuy nhiên, để nhân rộng mô hình, thành phố cần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn.

Ông Phan Xuân Thảo, Chủ tịch Hội Chăn nuôi và Thú y Thành phố Hồ Chí Minh nêu ý kiến tại hội thảo. Ảnh: Hương Giang - TTXVN

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, hiện dư địa phát triển chăn nuôi của thành phố rất lớn, với tổng đàn hơn 13 triệu con lợn, hơn 100.000 con trâu, bò, khoảng 40.000 con dê, cừu và hơn 21 triệu con gia cầm.

Ông Hồ Trúc Thanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, cho rằng phát triển chăn nuôi tuần hoàn không đơn thuần là lựa chọn một công nghệ xử lý chất thải, mà là quá trình tổ chức lại sản xuất, kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị và thay đổi cách sử dụng tài nguyên.

Theo đó, chất thải và phụ phẩm nếu được phân loại, thu gom, xử lý đúng quy trình và đáp ứng yêu cầu môi trường có thể trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Việc kết nối chăn nuôi với trồng trọt, thủy sản, chế biến và các lĩnh vực liên quan có thể góp phần giảm lãng phí tài nguyên, giảm chi phí và hình thành chuỗi giá trị bền vững hơn.

“TP. Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định 2148/QĐ- UBND 2025 về Kế hoạch phát triển nông nghiệp tuần hoàn trong lĩnh vực chăn nuôi đến năm 2030. Trên cơ sở đó, ngành nông nghiệp triển khai tuyên truyền, tập huấn, phối hợp với viện, trường nghiên cứu mô hình, đồng thời kết nối các lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt và thủy sản để tận dụng nguồn phụ phẩm. Tuy nhiên, hiện nay thành phố mới chỉ có 7 cơ sở chăn nuôi áp dụng thành công mô hình kinh tế tuần hoàn, cho thấy dư địa để mở rộng còn rất lớn”, ông Hồ Trúc Thanh cho biết.

Tuy nhiên, quy mô sản xuất giữa các cơ sở còn khá phân tán; trong đó tỷ lệ hộ chăn nuôi vẫn cao. Đây là một trong những thách thức đối với công tác kiểm soát môi trường và tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại. Việc xử lý  chất thải trong chăn nuôi cũng còn hạn chế, rất ít người dân chủ động xây dựng hầm biogas xử lý chất thải, nếu không được Nhà nước hỗ trợ; chỉ khoảng 11% hộ sử dụng chế phẩm sinh học để khử mùi, xử lý chất thải và 7,5% nước thải được xử lý trước khi xả ra môi trường.

Ông Lê Việt Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP. Hồ Chí Minh, cho biết với quy mô đàn vật nuôi hiện nay, mỗi năm ngành chăn nuôi ước phát sinh khoảng 2,7 - 3,25 triệu tấn chất thải rắn và 1,3 - 2,6 triệu m³ nước thải.

“Nếu không được thu gom, xử lý phù hợp, lượng chất thải này có thể tác động đến môi trường đất, nước, không khí, đồng thời làm gia tăng nguy cơ phát tán mầm bệnh. Ở chiều ngược lại, nếu được phân loại, thu gom và xử lý đúng quy trình, chất thải hữu cơ từ chăn nuôi có thể trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất phân bón, năng lượng hoặc kết nối với các ngành trồng trọt, thủy sản”, ông Lê Việt Bảo cho biết.

Từ thực tế chăn nuôi theo hướng tuần hoàn khép kín nhiều năm nay, ông Phạm Trường Giang, Giám đốc Công ty TNHH Trang Linh, cho biết việc biến chất thải thành nguồn đầu vào cho sản xuất hoàn toàn khả thi đối với ngành chăn nuôi. Mỗi tháng, đơn vị cung cấp 350 tấn phân bón hữu cơ đạt chuẩn USDA phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

Sắp tới, đơn vị sẽ tận dụng nguồn phân hữu cơ để hình thành vùng nguyên liệu trồng bắp, củ mì và các loại cây phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi, qua đó giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

“Khi chất thải được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên, giá trị tạo ra không dừng ở việc giảm chi phí xử lý mà còn có thể quay trở lại chuỗi sản xuất. Khi đó, hiệu quả chăn nuôi được mở rộng ra rất nhiều”, ông Phạm Trường Giang chia sẻ.

GS.TS Dương Nguyên Khang, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học công nghệ thuộc trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ về ứng dụng công nghệ trong chăn nuôi tuần hoàn. Ảnh: Hương Giang - TTXVN

Theo PGS.TS Lê Thụy Bình Phương, giảng viên Khoa Chăn nuôi Thú y, Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh, không thể áp dụng một mô hình tuần hoàn duy nhất cho tất cả cơ sở chăn nuôi, bởi hiện thành phố đang tồn tại đồng thời hộ chăn nuôi nhỏ và trang trại quy mô lớn. Vì vậy, với hộ nhỏ, giải pháp cần đơn giản, dễ áp dụng và giảm chi phí; trong khi trang trại lớn cần quy trình ổn định, có khả năng tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn.

“Cần ưu tiên quản lý các chi phí và nguồn lãng phí ngay trong quá trình chăn nuôi, giảm nguồn gây ô nhiễm trước khi đầu tư vào các phương tiện xử lý đắt tiền. Đối với phụ phẩm, cần phân loại ngay tại nguồn, đánh giá giá trị dinh dưỡng và từ đó xác định phương thức bảo quản, phối trộn và sử dụng phù hợp. Một hướng có thể nghiên cứu là hình thành các trung tâm thu gom, bảo quản, chế biến phụ phẩm, sau đó phân phối nguồn nguyên liệu đã được chuẩn hóa cho các trang trại”, PGS.TS Lê Thụy Bình Phương cho biết.

Bên cạnh đó, thành phố cũng cần xây dựng cơ sở dữ liệu về dòng vật chất, lượng chất thải phát sinh, tỷ lệ tái sử dụng và hiệu quả kinh tế, môi trường của từng mô hình, là cơ sở để đánh giá chính xác hiệu quả trước khi nhân rộng.

Từ góc độ liên kết vùng, ông Phan Xuân Thảo, Chủ tịch Hội Chăn nuôi và Thú y TP. Hồ Chí Minh, cho rằng chăn nuôi tuần hoàn không thể chỉ giới hạn trong phạm vi địa giới hành chính. TP. Hồ Chí Minh là thị trường lớn, tiếp nhận nguồn rau củ quả, thịt, cá và nhiều phụ phẩm từ các địa phương khác. Đây chính là nguồn nguyên liệu có thể được nghiên cứu, phân loại và đưa trở lại các chuỗi sản xuất nếu có cơ chế liên kết phù hợp.

“Không đi một mình” là yêu cầu được ông Thảo nhấn mạnh, bởi nếu thiếu liên kết giữa thành phố với các vùng sản xuất phụ cận, việc hình thành nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định cho chuỗi tuần hoàn sẽ gặp khó khăn.

Trong khi đó, những cơ sở nhỏ lại đối mặt với bài toán vốn và chi phí đầu tư. Đại diện một trang trại chăn nuôi tại TP. Hồ Chí Minh, bà Phạm Thị Mỹ Kiều, cho biết việc triển khai mô hình tuần hoàn gặp khó do chi phí cao và khó tiếp cận nguồn vốn, bởi đầu tư hệ thống xử lý chất thải, tái chế phụ phẩm và các quy trình tuần hoàn đòi hỏi nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực.

TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến năm 2030, trên 60% cơ sở chăn nuôi quy mô nông hộ và 100% cơ sở quy mô trang trại áp dụng công nghệ xử lý chất thải và tái sử dụng; trên 90% trang trại quy mô lớn áp dụng quy chuẩn Việt Nam về nước thải. Thành phố cũng hướng tới 100% cán bộ kỹ thuật được tập huấn về xử lý, tái chế chất thải, phụ phẩm và ít nhất 70% người chăn nuôi được tập huấn về công nghệ xử lý chất thải, tái chế, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp.

Để đạt các mục tiêu này, thành phố tập trung nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp; hoàn thiện cơ chế, chính sách; đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ kết nối doanh nghiệp và phát triển thị trường; nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ; tăng cường hợp tác; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Đáng chú ý, ngành nông nghiệp cũng đang nghiên cứu hoàn thiện hồ sơ liên quan đến vùng không được phép chăn nuôi và vùng chăn nuôi tập trung, giúp người dân và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công trình xử lý chất thải và các mô hình sản xuất tuần hoàn.

“Các giải pháp cần gắn với điều kiện thực tế, có hiệu quả kinh tế rõ ràng và cơ chế phối hợp để người chăn nuôi có thể tham gia lâu dài. Công nghệ phải đi cùng phương án tài chính, thị trường đầu ra, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát môi trường và trách nhiệm của từng chủ thể, khi đó mới hình thành được các chuỗi chăn nuôi tuần hoàn có giá trị, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành chăn nuôi”, ông Hồ Trúc Thanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh.

Hương Giang/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục