BNEWS Việt Nam hiện có 14.800 cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm cơ khí, nhưng chỉ có gần 100 doanh nghiệp có quy mô vốn hơn 500 tỷ đồng.
Ngày 27/4, trong khuôn khổ Triển lãm Quốc tế lần thứ 4 về Máy công cụ, Cơ khí chính xác và Gia công kim loại, Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) đã tổ chức hội thảo “Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam – Trước thềm hiệp định TPP”. Tại hội thảo lần này, nhiều chuyên gia và đại diện các doanh nghiệp đều nhấn mạnh, để có thể phát triển và đưa ngành cơ khí phát triển trong nước hội nhập, điểm cốt yếu là phải "vực" các doanh nghiệp cơ khí bằng những hỗ trợ về nguồn kinh phí và công nghệ.
* Có chính sách thu hút nguồn vốn Ngành sản xuất sản phẩm cơ khí, luyện kim trải qua 15 năm xây dựng và phát triển, song đến nay vẫn chỉ dừng lại ở mức “làm gia công”. Ở rất nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đủ sức “tự chế tạo ra một số sản phẩm” có sức cạnh tranh quốc tế. Do vậy, hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập siêu nhiều tỷ USD trang thiết bị, vật tư cho các ngành công nghiệp và cho bản thân ngành chế tạo cơ khí, luyện kim. Ông Đào Phan Long, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cho rằng, muốn xây dựng Việt Nam có một hệ thống doanh nghiệp cơ khí lớn mạnh, đủ sức chế tạo linh kiện, phụ tùng cho các tập đoàn đa quốc gia, sửa chữa các trang thiết bị phức tạp..., nhà nước cần có một hệ thống chính sách đồng bộ và quy hoạch cụ thể để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mạnh vào lĩnh vực này. Đồng thời, lựa chọn những sản phẩm cơ khí trọng điểm để tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, có thể hỗ trợ về nguồn vốn, lãi suất. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách Công nghiệp – Bộ Công Thương, cả nước có 14.800 cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm cơ khí, nhưng chỉ có gần 100 doanh nghiệp có quy mô vốn hơn 500 tỷ đồng. Với quy mô nhỏ, quản trị kém, công nghệ thấp, khả năng liên kết yếu và khó tiếp cận nguồn vốn..., sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp trong nước không cao. Theo Ths. Lê Văn Khương, Chủ tịch Tổng công ty Cơ khí xây dựng (COMA), một trong những lý do khiến nhiều doanh nghiệp đối mặt với “cái chết” là bởi vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận các nguồn vốn. Việc thiếu vốn đầu tư nên đa phần các nhà máy sản xuất cơ khí có dây chuyền công nghệ lạc hậu, kém đồng bộ, sản phẩm làm ra không có sức cạnh tranh trên thị trường. Do vậy, cần có các chính sách vĩ mô để thu hút mạnh mẽ các dòng vốn của các tổ chức và cá nhân trong – ngoài nước. “Nhà nước vẫn phải đưa ra cơ chế chính sách, cụ thể như thuế, phí; có chính sách khuyến khích tiêu dùng, tạo thị trường đầu ra cho doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các chính sách khuyến khích sử dụng những vật liệu trong nước, tăng thuế nhập khẩu ở mức cao đối với vật liệu xây dựng nhập khẩu”. - Ths Lê Văn Khương nói. Cũng theo ông Trần Ngọc Hà, Tổng giám đốc Tổng công ty Máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM), đầu tư cho sản xuất cơ khí đáp ứng được các yêu cầu về công nghệ cao, thị trường... cần nguồn vốn đầu tư rất lớn và hiệu quả đầu tư không cao so với các ngành khác. Vì thế, các doanh nghiệp cũng rất cần có sự hỗ trợ mạnh và cụ thể của nhà nước để sớm được tiếp cận các công nghệ mới, tập trung đầu tư một cách đồng bộ các thiết bị hiện đại. * Làm chủ công nghệ Tổng công ty Máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM) cho hay, riêng đối với sản phẩm đúc, đây chính là khâu trung gian kết nối ngành công nghiệp luyện kim và công nghiệp cơ khí chế tạo. Tỷ trọng các sản phẩm ngành đúc có thể chiếm từ 40-70% giá trị trong chuỗi công nghệ chế tạo các sản phẩm cơ khí. Tuy nhiên, một thực tại đáng buồn là ngành đúc Việt Nam hiện có khoảng 500 doanh nghiệp, cơ sở làm đúc nhưng chỉ có khoảng 10 doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam có công nghệ, thiết bị hiện đại.Chia sẻ về việc nâng cao công nghệ sản xuất các sản phẩm đúc, theo ông Trần Ngọc Hà, Tổng giám đốc VEAM, chỉ bằng con đường chuyên nghiệp hoá, hiện đại hoá đầu tư các dây chuyền thiết bị có trình độ kỹ thuật, công nghệ hiện đại mới có thể sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, ổn định, giá thành cạnh tranh và không tác động tới môi trường.
Đơn cử như tại VEAM, Tổng công ty đã đầu tư hơn 230 tỷ đồng cho dây chuyền đúc hiện đại nhập khẩu từ Nhật Bản, giúp doanh nghiệp đúc các thiết bị kỹ thuật phức tạp, chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh và tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm cho các công ty trong và ngoài nước. “Thời gian tới, khi Nhà nước quyết tâm thực hiện cơ khí trọng điểm, sẽ có thêm nhiều dự án đầu tư của nước ngoài được phê duyệt, ngành đúc sẽ có nhiều cơ hội tiếp thu các công nghệ tiên tiến, tăng tỷ lệ nội địa hoá, chất lượng các chi tiết đúc”. - ông Trần Ngọc Hà bày tỏ. Thực tế hiện nay cũng cho thấy, đã và đang có rất nhiều loại sản phẩm doanh nghiệp Việt Nam làm rất tốt như thiết bị cơ khí thuỷ công cho thuỷ điện, các chi tiết phi tiêu chuẩn cho công nghiệp xi măng, nhiệt điện, hoá dầu, chế tạo thân vỏ tàu, các bồn bể chứa cho các nhà máy đường... Cùng quan điểm này, đối với các doanh nghiệp cơ khí trong nước, Ths Lê Văn Khương cho rằng, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cơ khí phải tham gia chuỗi sản xuất chung toàn cầu. Đầu tiên, doanh nghiệp cơ khí có thể làm hàng gia công chế tạo cho nước ngoài. Sau đó học hỏi, tiếp cận dần và làm chủ công nghệ. Cuối cùng phải tự mình chủ động sản xuất cung cấp cho các nhà lắp ráp và kinh doanh. Hội nhập TPP chính là cơ hội cho các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tiếp thu công nghệ hiện đại của nước ngoài. Bên cạnh đó, cũng theo Ths. Lê Văn Khương, nhà nước cần quan tâm đến các doanh nghiệp trong nước bằng việc giao các dự án, gói thầu mà doanh nghiệp Việt Nam làm được hoặc liên danh, hợp tác với nhau để có năng lực tổng hợp. Đây là cơ hội để doanh nghiệp cơ khí Việt Nam gia tăng lợi nhuận và khả năng công nghệ của mình. Trong khi thực hiện các gói thầu này thì doanh nghiệp Việt Nam có thể thuê tư vấn nước ngoài làm trong giai đoạn đầu, sau đó tiếp nhận lại công nghệ trong các giai đoạn tiếp theo.../.- Từ khóa:
- cơ khí
- ngành cơ khí
Tin cùng chuyên mục
-
Doanh nghiệpDoanh nghiệp Nhật Bản đẩy mạnh phòng vệ trước đà suy yếu của đồng yen
Các nhà bán lẻ Nhật Bản đang tìm kiếm những biện pháp mới để phòng ngừa chi phí nhập khẩu tăng, trong bối cảnh đồng yen suy yếu kéo dài gây sức ép ngày càng lớn lên hoạt động kinh danh.
-
Doanh nghiệpEVNNPT hoàn thành 2 công trình truyền tải điện tại Đồng Nai trước Quốc khánh
EVNNPT vừa hoàn thành, đóng điện 2 công trình truyền tải tại Đồng Nai, góp phần tăng năng lực cung cấp điện và giải tỏa công suất Nhà máy điện Nhơn Trạch.
-
Doanh nghiệpBSR vào Top 50 Doanh nghiệp dẫn đầu ESG Việt Nam 2026
Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) vừa được vinh danh Top 50 Doanh nghiệp dẫn đầu về ESG Việt Nam năm 2026 do Tạp chí Forbes Việt Nam bình chọn.
-
Doanh nghiệpBảo đảm lưới điện dịp 2/9: PTC3 chủ động giải pháp kỹ thuật và vận hành
PTC3 chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và quản lý vận hành, bảo đảm lưới điện an toàn, liên tục trong dịp Lễ Quốc khánh 2/9/2026.
-
Doanh nghiệpSản lượng hàng hóa qua các cảng Hải Phòng vượt kịch bản 8 tháng
Tại Hải Phòng, 8 tháng của năm 2026, sản lượng hàng hóa qua các cảng ước đạt 134,34 triệu tấn, vượt kịch bản 8 tháng (115 triệu tấn), tăng 11,74% so với cùng kỳ, đạt 56,2% kế hoạch năm.
-
Doanh nghiệpKênh đào Panama giảm số tàu qua lại do ảnh hưởng của El Niño
Theo giới chức Panama, Kênh đào Panama hiện đảm nhận khoảng 5% khối lượng thương mại hàng hải toàn cầu, với trung bình 36-38 tàu qua lại mỗi ngày.
-
Doanh nghiệpNữ công nhân ngành điện khẳng định mình bằng năng lực và trách nhiệm
Phá vỡ định kiến về công việc của nam giới, các nữ cán bộ, công nhân viên Điện lực Thái Nguyên đang ngày đêm khẳng định năng lực và trách nhiệm với nghề.
-
Doanh nghiệpPTC3 triển khai đồng bộ giải pháp bảo đảm an toàn lưới điện truyền tải dịp Lễ Quốc khánh 2/9
PTC3 triển khai đồng bộ các giải pháp tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn lưới điện truyền tải, sẵn sàng ứng trực 24/7 trong dịp Lễ Quốc khánh 2/9.
-
Doanh nghiệpSPMB tập trung nguồn lực hoàn thành các dự án có khả năng về đích trong năm 2026
SPMB tập trung mọi nguồn lực, tăng tốc đẩy nhanh tiến độ khởi công và đóng điện các dự án lưới điện trọng điểm, hoàn thành kế hoạch năm 2026.











