Xuất khẩu thủy sản hướng tới mục tiêu 12 tỷ USD

11:46' - 13/05/2026
BNEWS Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận tín hiệu phục hồi tích cực và đang hướng tới mục tiêu 12 tỷ USD trong năm 2026.

Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp ngành thủy sản vẫn đang đối mặt nhiều khó khăn về nguyên liệu, lao động, chi phí sản xuất và rào cản thương mại quốc tế.

 

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (Vasep), xuất khẩu thuỷ sản 4 tháng đầu năm ước đạt khoảng 3,7 tỷ USD, tăng gần 15% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy ngành thủy sản có khởi đầu tích cực, nhất là ở các nhóm hàng chủ lực như tôm, cá tra, mực, bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và một số sản phẩm giá trị cao.

Mặc dù vậy, mức độ tăng trưởng giữa các sản phẩm và thị trường chưa đồng đều. Trong khi thị trường Trung Quốc tăng trưởng mạnh trên 50% thì một số thị trường khác phục hồi chậm, đáng chú ý xuất khẩu vào Hoa Kỳ có xu hướng giảm hơn 7% do áp lực rào cản thương mại ngày càng lớn.

Về mặt hàng, tôm tiếp tục là sản phẩm chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu chung với kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tăng 15%, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch thủy sản. Đà tăng đến từ sự phục hồi của một số thị trường châu Á, tăng trưởng mạnh của tôm hùm và tín hiệu tích cực ở một số sản phẩm tôm chế biến, giá trị gia tăng.

Thế nhưng tôm Việt vẫn phải cạnh tranh gay gắt từ Ecuador, Ấn Độ và Indonesia về giá thành. Tại Hoa Kỳ, ngành tôm tiếp tục chịu sức ép tác động của thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, rủi ro từ các kỳ rà soát hành chính và tâm lý mua hàng thận trọng của nhà nhập khẩu.

Ông Mai Văn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam thông tin, tôm là sản phẩm chủ lực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Năm 2025, xuất khẩu tôm mang về hơn 4,6 tỷ USD và vẫn còn dư địa tăng trưởng tốt trong thời gian tới. Tuy nhiên, các doanh nghiệp lo ngại diện tích nuôi tôm đang ngày càng thu hẹp, đặc biệt là tại các tỉnh ven biển miền trung từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng đến TP. Hồ Chí Minh (Bà Rịa – Vũng Tàu cũ) đang suy giảm. Doanh nghiệp muốn mở rộng vùng nuôi tôm cũng rất khó vì đụng đâu cũng trúng “quy hoạch” cho dự án bất động sản, du lịch,…

Trong khi đó, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ, nếu nguyên liệu trong nước không đủ, doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu về chế biến sẽ không đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.

Ông Mai Văn Hoàng nhấn mạnh, muốn giữ vững vị thế của ngành thuỷ sản Việt nói chung, ngành tôm nói riêng, phải tập trung tự chủ con giống. Hiện nay, Việt Nam đang nhập khẩu tới 90% lượng tôm bố mẹ. Về kỹ thuật, các vùng nuôi nên chuyển từ nuôi quảng canh truyền thống sang nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao để tăng tỷ lệ sống, sản lượng, từ đó giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh.

Đối với cá tra, xuất khẩu 4 tháng đạt khoảng 734 triệu USD, tăng 19%, tiếp tục là ngành hàng trụ cột thứ hai. Trong bối cảnh người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu và nhạy cảm về giá cả, cá tra có lợi thế nhờ giá cả hợp lý. Dư địa tăng trưởng của cá tra tập trung ở Trung Quốc, ASEAN, Trung Đông, EU và một số thị trường mới. Tuy nhiên, các thị trường nhập khẩu cũng liên tục nâng cao hàng rào kỹ thuật từ tiêu chuẩn vùng nuôi, yêu cầu chất lượng, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải gia tăng chi phí tuân thủ.

Trái ngược với xu hướng tăng trưởng tích cực của tôm và cá tra, khẩu cá ngừ 4 tháng năm 2026 đã giảm khoảng 6% so với cùng kỳ, ước đạt 286 triệu USD. Nguyên nhân là bởi mặt hàng này chịu sức ép cả về nguyên liệu và hàng rào kỹ thuật. Giá nguyên liệu tăng cao trong khi thị trường xuất khẩu yêu cầu nhiều thủ tục như chứng nhận COA theo Đạo luật Bảo vệ động vật biển có vú (MMPA), truy xuất nguồn gốc và chống khai thác bất hợp pháp.

Doanh nghiệp xuất khẩu nhận định, năm 2026 vẫn có những cơ hội tăng trưởng cho thủy sản Việt Nam. Theo đó, nhu cầu thủy sản toàn cầu nhìn chung vẫn ổn định, đặc biệt tại các thị trường có mức phụ thuộc nhập khẩu cao như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc. Cơ hội cũng đến từ quá trình tái cơ cấu tiêu dùng toàn cầu, khi người mua ngày càng càng ưu tiên các sản phẩm chế biến, tiện lợi, có giá trị sử dụng cao và nguồn gốc rõ ràng.

Các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA)... tiếp tục tạo dư địa để doanh nghiệp Việt Nam gia tăng lợi thế cạnh tranh nếu biết tận dụng tốt quy tắc xuất xứ, ưu đãi thuế và đáp ứng yêu cầu thị trường. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt nguồn cung ở một số khu vực, đặc biệt đối với các loài cá thịt trắng, nhuyễn thể và một số dòng thủy sản chất lượng cao cũng đang tạo thêm không gian cho hàng thủy sản Việt Nam mở rộng thị phần.

Ngoài những lợi thế, thuỷ sản Việt đang phải cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các nước cung ứng lớn như Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan hay Canada, nhất là ở các nhóm hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh như tôm, cá thịt trắng và hải sản cao cấp. Thách thức thứ hai là các rào cản kỹ thuật, thương mại và môi trường ngày càng dày đặc: thuế chống bán phá giá đối với tôm tại Hoa Kỳ, quy định của Đạo luật Bảo vệ Thú biển (MMPA), yêu cầu chứng nhận COA; chương trình truy xuất nhập khẩu, hệ thống chứng nhận khai thác điện tử mới của EU, cũng như việc thẻ vàng IUU vẫn chưa được gỡ bỏ. Bên cạnh đó, yêu cầu của khách hàng ngày càng khắt khe hơn, người tiêu dùng ngày càng nhạy cảm hơn về giá, nhưng đồng thời lại đòi hỏi cao hơn về chất lượng, tiện lợi, trách nhiệm môi trường và xã hội.

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhấn mạnh, dư địa thị trường với thủy sản còn lớn, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng 8 - 10% trong năm 2026. Tuy nhiên, ngành đang chịu nhiều áp lực như thiếu nguyên liệu, thiếu lao động, giá thành sản xuất cao, dịch bệnh, các vụ điều tra phòng vệ thương mại cũng như những quy định mới từ các thị trường nhập khẩu lớn.

Vì vậy, để đạt được cột mốc mới về xuất khẩu, doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ cùng các bộ, ngành tập trung tháo gỡ ba nhóm vấn đề lớn gồm cải cách thể chế và giảm chi phí tuân thủ; phát triển nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu; mở rộng thị trường và tăng cường đấu tranh thương mại quốc tế.

Theo đó, các cơ quan chức năng nâng cao tính kịp thời, linh hoạt trong giải quyết thủ tục hành chính và cấp giấy tờ cho hàng xuất khẩu, nhất là trong giai đoạn chuyển tiếp áp dụng quy định mới hoặc phân cấp cho địa phương. Đối với xuất khẩu hải sản khai thác sang thị trường EU và Hoa Kỳ, doanh nghiệp kiến nghị sớm sửa đổi một số quy định theo hướng đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh số hóa quy trình, thống nhất cách hiểu giữa các địa phương và phù hợp hơn với nghề cá quy mô nhỏ nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và chống khai thác IUU.

Hiệp hội cũng đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương rà soát quy định phân vùng khai thác thủy sản để phù hợp thực tế sản xuất; tiếp tục đầu tư hạ tầng cảng cá, hệ thống giám sát tàu cá và cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nhằm bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp cho chế biến xuất khẩu. Về lâu dài, cần xây dựng chương trình tổng thể phát triển nguồn nguyên liệu thủy sản cho chế biến xuất khẩu, tập trung nâng cao chất lượng con giống, kiểm soát dịch bệnh, giảm giá thành nuôi trồng và mở rộng vùng nuôi phù hợp quy hoạch.

Liên quan đến thị trường, Vasep mong muốn Chính phủ và các bộ, ngành liên quan tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại, chống bán phá giá, chống trợ cấp, yêu cầu tương đương kỹ thuật và các tiêu chuẩn mới về môi trường, phát triển bền vững tại các thị trường nhập khẩu lớn. Song song đó, tăng cường xúc tiến thương mại, ngoại giao kinh tế tại các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, Trung Đông, Anh và Australia nhằm mở rộng dư địa xuất khẩu cho thuỷ sản Việt Nam.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục