Cần đảm bảo tính minh bạch trong quan trắc môi trường

  • Thùy Dương - Thắng Trung/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Sáng ngày 24/10, tiếp tục kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu đã thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Các đại biểu đề nghị bảo đảm tính khách quan trong quan trắc môi trường, sử dụng hiệu quả ngân sách bảo vệ môi trường, hoàn thiện cơ chế thị trường carbon và làm rõ trách nhiệm thu gom, xử lý rác thải.

Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp): Cần minh bạch quan trắc, xử lý dứt điểm điểm nghẽn rác thải

Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp). Ảnh: Thắng Trung/Bnews/vnanet.vn

Đại biểu Hòa (Đoàn Đồng Tháp): Tôi cho rằng cần đặc biệt quan tâm đến tính khách quan trong hoạt động quan trắc môi trường. Nếu có sự can thiệp làm sai lệch kết quả quan trắc, khiến cơ quan quản lý nhận định tình hình ô nhiễm không đúng thực tế thì sẽ rất nguy hiểm. Vì vậy, cần nghiên cứu xã hội hóa hoạt động quan trắc, đánh giá tác động môi trường, cho phép doanh nghiệp đủ năng lực tham gia dưới sự quản lý, giám sát của cơ quan nhà nước, qua đó bảo đảm tính khách quan, minh bạch.

Đối với các sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường, Nhà nước đang khuyến khích sản xuất những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, sản phẩm phục vụ công nghiệp, nông nghiệp và thực phẩm an toàn. Tôi đề nghị cần có cơ chế đánh giá, thẩm định phù hợp, tránh áp dụng yêu cầu cứng nhắc đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường.

Một vấn đề cần quan tâm là quản lý chất thải điện tử. Đây là loại chất thải có nguy cơ gây hại lớn, có thể phát sinh từ pin, ắc quy và các thiết bị điện tử, trong đó có thiết bị sử dụng trong hệ thống điện mặt trời. Vì vậy, cần quy định rõ trách nhiệm thu gom, xử lý, bảo đảm các cơ sở sản xuất, kinh doanh không thải chất độc hại ra môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.

Tôi đồng tình với quy định cho phép các địa phương liên kết xây dựng nhà máy xử lý chất thải quy mô lớn. Đầu tư nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải rắn đòi hỏi kinh phí rất lớn, trong khi lợi nhuận không cao nên khó thu hút doanh nghiệp. Nếu mỗi tỉnh đều xây dựng một nhà máy riêng thì sẽ phân tán nguồn lực và hiệu quả đầu tư có thể không cao. Chẳng hạn, Đồng Tháp và Vĩnh Long có thể phối hợp xây dựng một nhà máy quy mô lớn phục vụ cả hai địa phương, thay vì mỗi tỉnh đầu tư một cơ sở riêng. Tôi cho rằng đây là hướng đi phù hợp, cần được khuyến khích.

Tuy nhiên, đối với các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa phương có nguồn thu ngân sách thấp, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ đầu tư nhà máy xử lý chất thải. Những địa bàn này khó thu hút doanh nghiệp nếu không bảo đảm hiệu quả kinh tế. Vì vậy, Nhà nước cần chủ động bố trí nguồn lực, hỗ trợ quỹ đất, đầu tư hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật và phối hợp với doanh nghiệp để triển khai các dự án. Nếu chỉ kêu gọi xã hội hóa mà không có cơ chế hỗ trợ phù hợp thì rất khó thực hiện.

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa (Đoàn Vĩnh Long):

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa (Đoàn Vĩnh Long). Ảnh: Thắng Trung/Bnews/vnanet.vn

Khơi thông thị trường carbon: Tôi đồng tình với đề xuất bố trí 2% tổng chi ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường. Đây là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống người dân, ảnh hưởng đến sức khỏe và điều kiện sinh sống, đồng thời tiềm ẩn những hệ lụy lâu dài đối với tương lai. Vì vậy, đầu tư cho các công trình, nhiệm vụ và hoạt động bảo vệ môi trường cũng là đáp ứng yêu cầu thực tế và nguyện vọng của người dân.

Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn ngân sách này cần bảo đảm rõ ràng, công khai và đánh giá được kết quả. Nguồn lực phải được phân bổ có trọng tâm, ưu tiên giải quyết những điểm nghẽn đã được xác định, tập trung vào công tác thu gom, xử lý chất thải và khắc phục ô nhiễm. Nếu phân bổ dàn trải, manh mún, nguồn kinh phí sẽ khó giải quyết được những vấn đề môi trường trực tiếp mà người dân đang bức xúc.

Về thị trường carbon quy định tại Điều 139, tôi đồng tình với việc tạo thêm động lực kinh tế cho công tác bảo vệ môi trường thông qua giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, để cơ chế này khả thi, cần có phương pháp đo đếm, xác nhận kết quả giảm phát thải rõ ràng, bảo đảm các tín chỉ carbon được hình thành có thể giao dịch. Khi đó, doanh nghiệp và người dân sẽ có thêm động lực đầu tư công nghệ, bảo vệ rừng và phát triển các hoạt động sản xuất nông nghiệp ít phát thải.

Tôi đề nghị rà soát các quy định tại Điều 3 và Điều 159 để làm rõ kết quả giảm phát thải được phép giao dịch trực tiếp hay phải được xác nhận dưới dạng tín chỉ carbon. Đồng thời, cần thống nhất cách sử dụng thuật ngữ và thẩm quyền của các cơ quan trong việc thẩm định, xác nhận, cấp hoặc công nhận tín chỉ, tránh cách quy định chưa đồng nhất giữa các điều khoản, gây khó khăn khi triển khai thực hiện.

Tín chỉ carbon phải phản ánh kết quả giảm phát thải thực chất. Việc mua tín chỉ không thể thay thế trách nhiệm xử lý nước thải, chất thải và các nghĩa vụ bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. Tôi đề nghị làm rõ nguyên tắc này trong luật nhằm bảo đảm thị trường carbon thực sự đóng góp vào mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ môi trường.

Đối với khoản 6 Điều 39, dự thảo giao Chính phủ quy định, hướng dẫn một số nội dung liên quan. Tôi đồng tình với cách tiếp cận này, đồng thời đề nghị khi xây dựng các văn bản hướng dẫn cần quan tâm đến cơ chế hỗ trợ người dân tham gia tạo tín chỉ carbon. Qua nghiên cứu các quy định liên quan, tôi nhận thấy cơ chế để người dân yên tâm tham gia lĩnh vực này vẫn cần được làm rõ hơn.

Giảm phát thải khí nhà kính đang là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm. Việt Nam có vai trò quan trọng trong nỗ lực này, xuất phát từ điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và tiềm năng giảm phát thải trong nhiều lĩnh vực. Do đó, cần có quy định để người dân, doanh nghiệp và các thành phần kinh tế nhìn thấy lợi ích cụ thể khi tham gia.

Đại biểu Phan Thị Thùy Linh (Đoàn Thanh Hóa):

Đại biểu Phan Thị Thùy Linh (Đoàn Thanh Hóa). Ảnh: Thắng Trung/Bnews/vnanet.vn

Phân loại rác phải gắn với trách nhiệm thu gom, xử lý: Tôi cho rằng việc phân loại mức độ nhạy cảm của dự án phải căn cứ vào khu vực chịu tác động và mức độ rủi ro, chứ không chỉ dựa trên diện tích đất chiếm dụng.

Chẳng hạn, một nhà máy có diện tích nhỏ nhưng xả thải gây ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa nguồn nước thì có thể nguy hiểm hơn nhiều so với một dự án chiếm diện tích lớn nhưng mức độ tác động thấp hơn. Nếu chỉ căn cứ vào diện tích, chúng ta có thể đánh giá chưa đúng mức độ rủi ro, dẫn đến dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao lại không phải thực hiện các yêu cầu kiểm soát tương xứng, trong khi dự án khác phải chịu thủ tục nặng nề hơn.

Về phân loại, thu gom và tính giá dịch vụ rác thải sinh hoạt, dự thảo luật đã có những quy định theo hướng yêu cầu người dân phân loại rác tại nguồn, đơn vị thu gom sử dụng phương tiện phù hợp với từng loại rác và duy trì kết quả phân loại; giá dịch vụ được tính theo khối lượng hoặc thể tích chất thải.

Tuy nhiên, thực tế tại nhiều nơi cho thấy người dân đã phân loại rác tại nhà nhưng khi thu gom, các loại rác lại bị đổ chung vào một thùng hoặc phương tiện vận chuyển. Điều này gây lãng phí công sức của người dân và làm giảm hiệu quả của chính sách. Vấn đề không chỉ nằm ở việc thiếu quy định mà còn ở chỗ trách nhiệm thực hiện chưa gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát cụ thể.

Vì vậy, tôi đề nghị rà soát, sửa đổi đồng bộ một số điều khoản để bảo đảm lộ trình phân loại rác và lộ trình tính giá dịch vụ gắn với khả năng cung cấp dịch vụ thu gom, xử lý trên thực tế. UBND cấp tỉnh cần tổ chức dịch vụ thu gom phù hợp với phương án phân loại, có giải pháp xử lý riêng đối với từng nhóm chất thải. Đồng thời, người dân phải được thông tin rõ loại rác nào phải trả phí, khối lượng hoặc thể tích được xác định bằng cách nào và mức phí phải nộp ra sao.

Một vấn đề nữa là xử lý rác hữu cơ, đặc biệt là rác thải thực phẩm, ngay tại nguồn. Đây là thành phần chiếm tỷ trọng đáng kể trong rác thải sinh hoạt, làm phát sinh nhiều chi phí vận chuyển và chôn lấp, trong khi có tiềm năng xử lý, tái chế thành phân bón hữu cơ.

Dự thảo luật đã định hướng khuyến khích tái chế tại nguồn, ưu tiên xử lý rác thải thực phẩm thành phân bón hữu cơ. Để chủ trương này triển khai hiệu quả, tôi đề nghị bổ sung tại Điều 78 trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phân loại, xử lý rác thải thực phẩm tại chỗ hoặc theo cụm ở những nơi có điều kiện như chợ, trường học, cơ sở lưu trú và khu dân cư.

Các địa phương cần lựa chọn, hỗ trợ công nghệ phù hợp, đồng thời kết nối đầu ra để sản phẩm sau xử lý được sử dụng trong nông nghiệp, bảo đảm chất lượng và an toàn. Nếu thực hiện tốt, giải pháp này không chỉ giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu quả phân loại rác tại nguồn mà còn góp phần tạo thêm giá trị cho sản xuất nông nghiệp.



Tin cùng chuyên mục