BNEWS Muốn phát triển và gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành dệt may cần có chiến lược xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ngay từ bay giờ.
Đây là nhận định của các chuyên gia tại hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Hội dệt may thêu đan Tp. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 14/4.
* Chưa đáp ứng nhu cầu Ông Nguyễn Xuân Hồng, Chủ tịch Hội dệt may thêu đan Tp. Hồ Chí Minh cho biết, dệt may không chỉ đóng vai trò là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam mà còn là một trong những ngành tạo ra nhiều công ăn việc làm với khoảng 2,5 triệu lao động. Tuy nhiên, phần lớn số lao động trong ngành dệt may hiện nay là lao động phổ thông, thực hiện các công đoạn gia công sản phẩm, còn các khâu yêu cầu có trình độ kỹ thuật như nhuộm, hoàn thiện vải hay thiết kế sản phẩm đang thiếu và yếu.Theo ông Phạm Xuân Hồng, việc thiếu nhân lực chất lượng cao cũng là một trong những nguyên nhân khiến ngành sản xuất nguyên phụ liệu may mặc của Việt Nam khó phát triển và phải phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Thêm vào đó, các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao như: thiết kế thời trang, xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng rất hạn chế. Mặc dù Việt Nam nằm trong top 5 quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới, nhưng chưa có thương hiệu thời trang nào thuần Việt được người tiêu dùng thế giới biết đến.
Tiến sĩ Phạm Xuân Thu, Giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế đối ngoại Tp. Hồ Chí Minh phân tích thêm, trong tổng số hơn 6.000 doanh nghiệp ngành dệt may ở Việt Nam, số doanh nghiệp ở lĩnh vực dệt (bao gồm dệt, nhuộm, in, hoàn tất) chỉ chiếm hơn khoảng 30%, số còn lại chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực may gia công sản phẩm theo đơn của các thương hiệu thời trang nước ngoài.Chỉ có một số ít các doanh nghiệp có thể đầu tư tạo ra sản phẩm dệt may hoàn thiện, bao gồm cả sản xuất vải, thiết kế mẫu và cắt may. Trong đó, đối với các quy trình nhuộm, hoàn thiện vải và thiết kế mẫu sản phẩm vẫn phải thuê chuyên gia, kỹ thuật viên người nước ngoài với chi phí rất cao. Điều này làm tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp nước ngoài.
Các chuyên gia cho rằng, việc thiếu hụt lao động chất lượng trong ngành dệt may xuất phát từ thực tế đào tạo nhân lực. Cả nước hiện có 19 trường Cao đẳng, 19 trường Đại học và 3 Viện có chương trình đào tạo liên quan chuyên ngành công nghệ dệt, may hoặc thiết kế thời trang.Trong đó, ngoại trừ các trường chính quy thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam có số lượng tuyển sinh khoảng 3.000 chỉ tiêu (bậc Cao đẳng), còn lại các cơ sở đào tạo khác chỉ tuyển 20 - 30 chỉ tiêu/năm.
Số lao động được đào tạo trong các cơ sở này chỉ mới đáp ứng được khoảng 15% nhu cầu nhân lực của toàn ngành. Trong khi đó, khuynh hướng hiện nay của các doanh nghiệp là ưu tiên thu hút lao động có tay nghề chứ không đầu tư cho các hoạt động đào tạo.
* Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt, để có thể duy trì sự phát triển cũng như tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần đầu tư đúng mức cho việc đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tiến sĩ Phạm Xuân Thu nhận định, ngành dệt may Việt Nam đã phát triển đến quy mô nhất định nên trong thời gian tới cần có sự chuyển đổi về chất, tức là phải chuyển sang giai đoạn tạo ra nhiều giá trị gia tăng. Để làm được điều đó, ngành dệt may phải tái cơ cấu và phân bố lại sản xuất gắn với việc tái cấu trúc lại lực lượng lao động theo hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Chỉ có khi chất lượng lao động được tăng lên thì doanh nghiệp mới có thể khai thác tốt các nguồn nguyên liệu, tăng năng suất lao động và năng lực quản lý để tăng khả năng cạnh tranh.
Cụ thể, doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn cho việc đào tạo nguồn nhân lực, chủ động tuyển dụng và có trách nhiệm đào tạo chuyên sâu với những nhân viên cam kết gắn bó lâu dài. Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích người lao động chủ động nâng cao trình độ, tay nghề bằng chế độ lương, thưởng phù hợp. Một trong những thách thức đối với các doanh nghiệp dệt may hiện nay là hiện tượng nhảy việc của những nhân sự có tay nghề và kinh nghiệm. Vì vậy, muốn giữ chân người lao động, ngoài mức tiền lương tương xứng, doanh nghiệp cần áp dụng các phương thức quản trị hiệu quả như: tạo điều kiện để người lao động phát huy năng lực, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, quan tâm tới các nhu cầu tinh thần… Ông Phạm Xuân Hồng cho rằng, bên cạnh trách nhiệm của các doanh nghiệp, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần có sự tham gia tích cực của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như cơ sở đào tạo. Trong đó, Nhà nước cần quy hoạch hệ thống cơ sở đào tạo ngành dệt may tương xứng với quy mô và nhu cầu thực tế của ngành. Đặc biệt, phát triển đào tạo bậc trung cấp chuyên nghiệp ở ngành dệt để đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành sản xuất nguyên phụ liệu trong nước; có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đào tạo lao động, Về phía các cơ sở đào tạo, ngoài việc mở rộng quy mô tuyển sinh, cần tăng cường liên kết với các doanh nghiệp nhằm xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Thêm vào đó, phải làm tốt công tác định hướng nghề nghiệp, xác định đúng tầm quan trọng và khả năng tìm được việc của học viên, sinh viên ngành dệt may để tránh tình trạng người học đổ xô vào các ngành nghề không có nhu cầu, trong khi ngành có tiềm năng phát triển lại không tuyển dụng được lao động./.Tin liên quan
Mỗi năm, dệt may Việt Nam tiêu 3 tỷ USD cho năng lượng sản xuất
Thống kê mỗi năm, ngành dệt may Việt Nam tiêu tốn 3 tỷ USD chi phí cho năng lượng sản xuất. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamKinh tế 8 tháng: Thêm cơ sở cho mục tiêu tăng trưởng hai con số
Những kết quả tích cực của các chỉ số kinh tế không chỉ củng cố nền tảng ngắn hạn mà còn khẳng định vị thế của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế về chặng đường phát triển dài hạn phía trước.
-
Kinh tế Việt NamHợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây
Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong.
-
Kinh tế Việt NamHợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển
Ngày 17/8/2026, Lâm Đồng và Mondulkiri ký thỏa thuận hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Chín ngày sau, Đắk Lắk và Mondulkiri ký Bản ghi nhớ hợp tác cho cùng giai đoạn.
-
Kinh tế Việt NamTP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài cuối: Nâng chất lượng tăng trưởng từ công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sau 23 năm, Khu Công nghệ cao TP.HCM thu hút 166 dự án với hơn 13 tỷ USD, nay xây Trung tâm Phát triển Công nghệ Chiến lược 52,92ha tập trung AI, bán dẫn để nâng năng suất, giá trị gia tăng.
-
Kinh tế Việt NamTP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài 2: Định hình những cực tăng trưởng mới
Khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, bài toán của TP. Hồ Chí Minh không chỉ là huy động thêm nguồn lực mà còn phải tổ chức và kết nối chúng hiệu quả hơn.
-
Kinh tế Việt NamTP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài 1: TP. Hồ Chí Minh đi đầu kiến tạo thể chế phát triển
Sau 40 năm Đổi mới, TP.HCM tiên phong "xé rào" thể chế, từ Khu chế xuất Tân Thuận đến Luật Phát triển đô thị, mở đường hình thành siêu đô thị tích hợp cùng Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu.
-
Kinh tế Việt NamKhu kinh tế biển hiện đại trên vùng cách mạng kiên trung
Khu kinh tế mở Chu Lai đã từng bước khẳng định vai trò là một cực tăng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, trở thành trung tâm công nghiệp, logistics và dịch vụ hiện đại.
-
Kinh tế Việt NamMở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài cuối - Những "điểm chạm" nối hai cực công nghiệp
“Muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì đi cùng nhau” – câu nói ấy có lẽ cũng đúng với hành trình thu hút dòng vốn FDI trong giai đoạn mới.
-
Kinh tế Việt NamMở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài 2- Tạo “đường băng” mới đón dòng vốn ngoại “hạ cánh”
Nằm ở vị trí tâm điểm của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, kề cận Thủ đô Hà Nội, tỉnh Hưng Yên và Bắc Ninh đã và đang có những kế hoạch nhằm đi tắt đón dầu cho sự dịch chuyển công nghiệp.













