Đẩy mạnh liên kết chuỗi và truy xuất nguồn gốc trong chăn nuôi

  • Hằng Trần/Bnews/Vnanet.vn

BNEWS Trước các yêu cầu mới của thị trường, ngành chăn nuôi không chỉ dừng lại ở mục tiêu tăng sản lượng mà phải hướng tới an toàn, chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng và mang lại giá trị cao.

Ông Nguyễn Văn Vẻ, xã Việt Tiến, tỉnh Hưng Yên, kiểm tra tình hình phát triển của đàn lợn thịt được nuôi theo hướng an toàn sinh học của gia đình. Ảnh: Đinh Văn Nhiều-TTXVN 

Ngành chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức truyền thống nhỏ lẻ sang trang trại tập trung và chuyên nghiệp, tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm nguồn cung thực phẩm, tạo sinh kế cho người dân và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, trước các yêu cầu mới của thị trường, ngành chăn nuôi không chỉ dừng lại ở mục tiêu tăng sản lượng mà phải hướng tới an toàn, chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng và mang lại giá trị cao hơn cho người sản xuất.

PGS.TS Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, tỷ lệ chăn nuôi theo hình thức trang trại tập trung quy mô lớn hiện nay chiếm từ 55% đến 56% tổng đàn lợn và từ 56% đến 58% tổng đàn gia cầm, đóng góp hơn 60% tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng. Mặc dù hình thức trang trại đã chiếm ưu thế, tỷ trọng sản lượng thực tế lưu thông qua các chuỗi liên kết có kiểm soát và truy xuất nguồn gốc hiện chỉ chiếm khoảng 20% đến 25%. Khoảng 75% đến 80% sản lượng còn lại vẫn tiêu thụ tự do qua thương lái trung gian dưới dạng thịt tươi tại các chợ truyền thống.

Qua các dự án khuyến nông cho thấy hiệu quả rõ rệt của mô hình chăn nuôi chuẩn hóa. Các mô hình chăn nuôi lợn VietGAHP liên kết tiêu thụ giúp giá bán sản phẩm cao hơn từ 5% đến 10% so với sản phẩm thông thường, gắn liền với các thương hiệu như "Thịt heo Quế Lâm", "Xúc xích Công Danh", "Thịt lợn tươi Thiên Thuận Tường". Chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học hình thành các thương hiệu "Gà đồi Tân Tiến", "Gà ủ muối Ba Vì".

Mô hình chăn nuôi bò VietGAHP gắn với kinh tế tuần hoàn, xử lý chất thải và phát triển vùng nguyên liệu nâng cao hiệu quả kinh tế từ 19,7% đến 23,5%, định danh các sản phẩm như "Thịt bò H’Mông Cát Lý - Hà Giang", "Thịt bò chất lượng cao HLBC". Ngoài ra, các vật nuôi bản địa phát triển nhiều sản phẩm OCOP 3 - 4 sao như "Vịt quay Thu Hằng", "Vịt biển Đông Xuyên", "Mật ong Tâm An", "Mật ong Bồ Đề", "Mật ong Bắc Hà", "Mật ong Sú Vẹt".

Ông Lê Quốc Thanh cho biết thêm, việc phát triển chăn nuôi gắn với truy xuất nguồn gốc vẫn vấp phải nhiều nút thắt kìm hãm sự phát triển bền vững. Đó là sự lỏng lẻo trong cam kết hợp đồng liên kết chuỗi giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng phá vỡ cam kết khi giá cả thị trường biến động. Chi phí sản xuất cao do phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Hiện nay, thức ăn chăn nuôi công nghiệp chiếm từ 60% đến 75% giá thành sản xuất, nhưng ngành chăn nuôi phải nhập khẩu tới hơn 65% nguyên liệu thô; kim ngạch nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi năm 2025 lên tới 1,04 tỷ USD, tạo áp lực cạnh tranh gay gắt.  Hơn nữa hạ tầng dữ liệu số thiếu đồng bộ và hiện trạng tem nhãn truy xuất chưa chuẩn hóa. Các hệ thống tem mã QR do cơ sở tự in đa phần chỉ hiển thị thông tin quảng cáo chung, chưa kết nối với dữ liệu dịch tễ, tiêm phòng và nguồn gốc thực tế. Hơn nữa là  sự bất cập từ hạ tầng giết mổ và quỹ đất sạch.

Kiểm tra việc đóng dấu kiểm soát giết mổ. Ảnh minh họa: Nguyễn Hằng - TTXVN

Cả nước có 552 cơ sở giết mổ tập trung được quy hoạch nhưng chỉ có 45 cơ sở đạt quy mô công nghiệp; trong khi đó, toàn quốc vẫn tồn tại gần 25.000 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ tự phát, với hơn 70% hoạt động không phép.

Liên quan về quản lý liên kết chuỗi và quản trị dữ liệu, TS. Nguyễn Trọng Tuyển, Chuyên viên Cục Chăn nuôi và Thú y, nhấn mạnh: "Liên kết chuỗi giá trị không đơn thuần là hoạt động mua bán mà phải là sự phân công vai trò, trách nhiệm của từng tác nhân trong toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm. Truy xuất nguồn gốc không chỉ nhằm xác định sản phẩm đến từ cơ sở nào mà phải thể hiện lịch sử hình thành sản phẩm, từ quá trình sản xuất, nguyên liệu đầu vào đến giết mổ, chế biến và phân phối".

Nhằm thực hiện Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành chăn nuôi hướng tới mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng thịt xẻ các loại từ 6,0 đến 6,5 triệu tấn, 23 tỷ quả trứng và 2,6 triệu tấn sữa. Tỷ trọng gia súc, gia cầm được giết mổ tập trung công nghiệp đạt tương ứng 70% và 50%; tỷ trọng thịt được chế biến đạt từ 40% đến 50%.

Để hoàn thành các mục tiêu chiến lược này, ngành chăn nuôi cần cơ cấu lại sản xuất theo hướng công nghiệp, ưu tiên quy hoạch phát triển chăn nuôi theo chuỗi khép kín, giảm chăn nuôi nhỏ lẻ không an toàn sinh học, di dời cơ sở khỏi khu vực không được phép và quy hoạch lại hệ thống giết mổ tập trung.

Bên cạnh đó ngành chăn nuôi cần tăng cường giám sát hiệu lực hợp đồng liên kết chuỗi và kiên quyết dẹp bỏ các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ không phép, không bảo đảm vệ sinh thú y. Hội Chăn nuôi Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người chăn nuôi, thúc đẩy hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm nhằm hướng tới nền chăn nuôi an toàn, minh bạch và phát triển bền vững.

Hằng Trần/Bnews/Vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục