Bước chuyển cho ngành chăn nuôi Việt

  • Hằng Trần/Bnews/Vnanet.vn

BNEWS Bước vào giai đoạn tái cấu trúc 2026–2030, ngành chăn nuôi Việt Nam đang lấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kiểm soát an toàn sinh học làm động lực cốt lõi để chuyển mình.

khu chuồng trại lợn khép kín của gia đình ông Nguyễn Văn Vẻ, xã Việt Tiến, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Đinh Văn Nhiều-TTXVN

Việt Nam hiện thuộc nhóm các quốc gia có quy mô sản xuất chăn nuôi lớn trên thế giới; trong đó, đàn lợn đứng thứ 5 và đàn gia cầm đứng thứ 9, đóng góp cho đảm bảo an ninh thực phẩm và từng bước tham gia vào thị trường xuất khẩu. Bước vào giai đoạn tái cấu trúc 2026–2030, ngành chăn nuôi Việt Nam đang lấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kiểm soát an toàn sinh học làm động lực cốt lõi để chuyển mình từ sản xuất truyền thống sang mô hình hiện đại, bền vững.

Dù đạt được những kết quả tích cực, ngành chăn nuôi vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức như phụ thuộc lớn vào nguyên liệu thức ăn nhập khẩu, chưa chủ động hoàn toàn về con giống và công nghệ, cùng cấu trúc sản xuất phân tán và áp lực dịch bệnh. Đứng trước yêu cầu tái cấu trúc, ngành chăn nuôi xác định mục tiêu đến năm 2030 phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và kiểm soát tốt dịch bệnh.

Dự kiến đến năm 2030, tổng sản lượng thịt đạt trên 10 triệu tấn, sản lượng trứng đạt hơn 25 tỷ quả và sản lượng sữa đạt khoảng 1,6 triệu tấn. Trọng tâm của quá trình này là xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi thông minh, đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số làm động lực chuyển dịch từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu.

Từ góc độ doanh nghiệp sản xuất lợn thịt và phòng dịch, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty BAF Việt Nam, cho rằng thời gian qua các đợt dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, đã làm thay đổi căn bản góc nhìn về tổ chức sản xuất. Theo ông Nguyễn Văn Minh, nếu trước đây các trang trại được thiết kế để tối ưu hóa năng suất thì hiện nay yếu tố quan trọng nhất là khả năng kiểm soát rủi ro sinh học.

Trong điều kiện dịch bệnh chưa được kiểm soát hoàn toàn, một trang trại chỉ cần sơ hở ở một mắt xích nhỏ cũng có thể dẫn đến thiệt hại lớn. Vì vậy, trang trại không đơn thuần là nơi sản xuất thịt mà dần trở thành một hệ thống quản trị tổng thể, nơi rủi ro được kiểm soát bằng công nghệ và giá trị được tạo ra từ chính những gì trước đây bị coi là chi phí.

Chia sẻ thêm về bài toán phòng chống dịch bệnh, ông Nguyễn Văn Điệp, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần AVAC Việt Nam, cho biết dịch tả lợn châu Phi là bệnh do virus gây ra chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và đang gây ra thiệt hại lớn trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, kể từ khi xuất hiện vào năm 2019, dịch bệnh này đã khiến hơn 7 triệu con lợn phải tiêu hủy, gây thiệt hại hàng chục nghìn tỷ đồng. Trong bối cảnh đó, vaccine được xem là giải pháp chủ động, hiệu quả và bền vững nhất để kiểm soát dịch.

Để phát triển vaccine đưa ra thị trường, ngành chăn nuôi cần giải quyết đồng bộ ba vấn đề cốt lõi: xây dựng hệ thống nuôi cấy tế bào ổn định phục vụ sản xuất quy mô lớn; tạo chủng virus giống gốc vừa đảm bảo an toàn vừa duy trì hiệu lực bảo hộ và hoàn thiện bộ dữ liệu đầy đủ để đánh giá toàn diện trước khi cấp phép lưu hành.

Đánh giá về định hướng phát triển của ngành, ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi - Thú y thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phúc lợi động vật và các yếu tố môi trường. Dự báo đến năm 2030, nhu cầu thịt, trứng, sữa tiếp tục tăng đi kèm với các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe, đồng thời cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng giảm dần thịt đỏ, tăng tỷ trọng gia cầm và tối ưu hóa năng suất thông qua công nghệ.

Ông Phạm Kim Đăng nhìn nhận ngành chăn nuôi còn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu thức ăn nhập khẩu, cấu trúc sản xuất phân tán và liên kết chuỗi chưa chặt chẽ. Để đạt các mục tiêu đến năm 2030, ngành sẽ tập trung làm chủ công nghệ giống, phát triển ngành thức ăn bền vững, chủ động phòng chống dịch bệnh, phát triển vùng an toàn dịch bệnh đạt chuẩn quốc tế, đẩy mạnh giết mổ chế biến sâu và chuyển đổi số toàn diện.

Ông Phạm Kim Đăng nhấn mạnh, nếu tận dụng tốt giai đoạn hiện nay, ngành chăn nuôi Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh mẽ trong thập kỷ tới từ sản xuất truyền thống sang ngành kinh tế hiện đại, hiệu quả và có vị thế cao trên bản đồ nông nghiệp thế giới.

Cùng chung quan điểm, ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ ( Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận định, giai đoạn 2026-2030 là thời kỳ đột phá với trọng tâm là xây dựng chương trình khoa học công nghệ mang tính chiến lược, tập trung vào các công nghệ lõi. Định hướng trọng tâm bao gồm ứng dụng công nghệ di truyền tiên tiến như chỉnh sửa gen và chọn giống theo hệ gen để tạo các giống vật nuôi năng suất cao, kháng bệnh tốt.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số là trụ cột phát triển với mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Big Data), ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán dịch bệnh và tự động hóa. Ngành cũng thúc đẩy mô hình chăn nuôi tuần hoàn, giảm phát thải hướng tới Net Zero thông qua tái chế chất thải và phụ gia thức ăn giảm khí nhà kính, tạo bước đột phá nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo an ninh dịch bệnh trong hội nhập toàn cầu.

 

Hằng Trần/Bnews/Vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục