Giai đoạn 2021-2030, cần hơn 10 tỷ USD/năm để phát triển nguồn và lưới điện

12:23' - 13/10/2021
BNEWS Tổng nhu cầu vốn đầu tư nguồn điện và lưới điện truyền tải 220-500 kV cho giai đoạn 2021-2030 dự kiến khoảng 99,3 - 116 tỷ USD (tương ứng 9,9 – 11,6 tỷ USD/năm)
Sau khi được Hội đồng thẩm định họp xem xét và bỏ phiếu thông qua, Bộ Công Thương đã hoàn thiện và có tờ trình số 6277/TTr-BCT về phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch Điện VIII) lên Chính phủ.
Theo đánh giá của Đề án Quy hoạch Điện VIII, tính tới cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn quốc đạt 69.342 MW; trong đó miền Bắc là 25.121 MW, miền Trung là 12.232 MW và miền Nam là 31.898 MW.
Xét về mặt cơ cấu thì thuỷ điện đóng góp 20.993 MW (30,3% công suất và 29,6% sản lượng); nhiệt điện than là 21.383 MW (30,8% công suất và 50% sản lượng); tuabin khí 9.025 MW (13.1% công suất và 14,6% sản lượng); điện gió là 538 MW (0,8% công suất và 0,4% sản lượng); điện mặt trời 16.506 MW (23,8% công suất, 3,7% sản lượng); các nguồn khác là 325 MW; điện nhập khẩu là 572 MW.
Bộ Công Thương cho hay, về cơ bản, hệ thống điện đảm bảo đáp ứng nhu cầu phụ tải, tuy nhiên, dù có công suất lắp đặt tương đối cao so với nhu cầu phụ tải cực đại (69.342/38.617 MW) nhưng mức độ dự phòng công suất của hệ thống khá thấp, do tính chất thay đổi theo mùa của thuỷ điện, nhu cầu sửa chữa, bảo dương nhiệt điện và tính bất định của nguồn điện gió, mặt trời.
Nếu không tính các nguồn điện gió, mặt trời thì vào mùa mưa, tỷ lệ dự phòng công suất khả dụng chỉ là 9,06% và vào mùa khô là khoảng 8,16%.
Tuy nhiên, Bộ Công Thương cho rằng, ở Quy hoạch Điện VII và Quy hoạch Điện VII điều chỉnh, việc điều hành thực hiện quy hoạch chưa quyết liệt, chưa có giải pháp kịp thời thúc đẩy các dự án nguồn và lưới điện vào đúng tiến độ; chưa có chế tài, công cụ đủ mạnh xử lý các chủ đầu tư các dự án chậm tiến độ. Ngoài ra, nhiều dự án nguồn và lưới điện được quy hoạch nhưng việc giải quyết, bố trí địa điểm của nhiều địa phương chậm, ảnh hưởng tới việc triển khai dự án, nguy cơ phá vỡ quy hoạch quốc gia trong thực tế.
Đặc biệt, việc phát triển nguồn điện trong những năm gần đây chưa phù hợp với phân bố và phát triển phụ tải, làm mất cân bằng cung – cầu từng miền và gây sức ép lên truyền tải từ miền Trung, miền Nam ra miền Bắc…
Trong đề xuất tại tờ trình 6277/TTr-BCT vào ngày 8/10/2021, Bộ Công Thương cho hay, kết quả dự báo phụ tải toàn quốc và các miền sau khi tiến hành rà soát không thay đổi so với kết quả đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại tờ trình 1682/TTr-BCT ngày 26/3/2021 trước đó.
Quy hoạch điện VIII lần này được xây dựng nhằm mục tiêu đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với mức tăng GDP bình quân là khoảng 6,6%/năm trong giai đoạn 2021-2030 và khoảng 5,7%/năm trong giai đoạn 2031-2045.
Trong số các mục tiêu được đặt ra có việc ưu tiên khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện, tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo đạt khoảng 11,9 - 13,4% vào năm 2030 và khoảng 26,5 - 28,4% và năm 2045.
Theo kế hoạch phát triển nguồn điện, năm 2025, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 102.590 - 105.265 MW, trong đó: thủy điện đạt 25.323 MW chiếm tỷ lệ 24,1 - 24,7%; nhiệt điện than 29.679 MW chiếm tỷ lệ 28,2 - 28,9%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 14.117 MW chiếm tỷ lệ 13,4 - 13,7%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, ...) 29.618 - 31.418 MW chiếm tỷ lệ 28,9 - 29,8%; nhập khẩu điện 3.853 - 4.728 MW chiếm tỷ lệ 3,7 - 4,5%.
Vào năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 130.371 - 143.839 MW, trong đó: thủy điện và thủy điện tích năng đạt 26.684 - 27.898 MW chiếm tỷ lệ 19,4 - 20,5%; nhiệt điện than 40.899 MW chiếm tỷ lệ 28,4 - 31,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 27.471 - 32.271 MW chiếm tỷ lệ 21,1-22,4%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, ...) 31.380 - 37.030 MW chiếm tỷ lệ 24,3 - 25,7%; nhập khẩu điện 3.936 - 5.742 MW chiếm tỷ lệ 3 - 4%.
Tới năm 2045, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 261.951-329.610 MW, trong đó: thủy điện và thủy điện tích năng đạt 35.677 - 41.477 MW chiếm tỷ lệ 12,6 - 13,6%; nhiệt điện than 50.949 MW chiếm tỷ lệ 15,4 - 19,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 61.683 - 88.533 MW chiếm tỷ lệ 23,5 - 26,9%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, ...) 104.900-137.610 MW chiếm tỷ lệ 40,1 - 41,7%; nhập khẩu điện 8.743 - 11.042 MW chiếm tỷ lệ 3,3%.
So với tờ trình 1682/TTr-BCT hồi tháng 3/2021, ở phương án phụ tải cơ sở, năm 2030, tổng công suất đặt trong tờ trình 6277/TTr-BCT đã giảm 7.689 MW, còn năm 2045 giảm 15.000 MW.
Ở phương án phụ tải cao, tờ trình mới cũng giảm 6.000 MW vào năm 2030 và giảm 14.200 MW vào năm 2045.
Bộ Công thương cũng kiến nghị “lựa chọn kịch bản phụ tải cao làm phương án điều hành, nhằm đảm bảo mức dự phòng nguồn điện hợp lý, đáp ứng nhu cầu điện cho nền kinh tế tăng trưởng theo mục tiêu được đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước tới năm 2045.
Tại tờ trình 6277, tổng nhu cầu vốn đầu tư nguồn điện và lưới điện truyền tải 220-500 kV cho phương án phụ tải cơ sở, phương án phụ tải cao giai đoạn 2021-2030 dự kiến khoảng 99,3 - 116 tỷ USD (tương ứng 9,9 – 11,6 tỷ USD/năm); dự kiến giai đoạn 2031 - 2045 là khoảng 180 – 226,5 tỷ USD (tương ứng 12 - 15 tỷ USD/năm)
Sau khi rà soát so với nội dung tại tờ trình cũ 1682 hồi tháng 3/2021, phương án phụ tải cơ sở giảm khoảng 12 tỷ USD tổng vốn đầu tư trong giai đoạn 2021-2030 và giảm 8,62 tỷ USD giai đoạn 2031 - 2045. PHương án phụ tải cao, tổng vốn đầu tư giai đoạn 2021-2030 giảm khoảng 13,2 tỷ USD và khoảng 14,44 tỷ USD trong giai đoạn 2031 - 2045./.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục