Hydrogen mở lối cho tương lai công nghiệp không phát thải

  • Ngọc Quỳnh/bnews/vnanet.vn

BNEWS Ngày 29/7, tại Hà Nội, diễn ra Diễn đàn "Năng lượng Hydrogen và tương lai công nghiệp không phát thải".

Sự kiện do Tạp chí Năng lượng sạch Việt Nam, Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam (VCEA) cùng Viện Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh đồng chủ trì, quy tụ đông đảo các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia hàng đầu và đại diện các doanh nghiệp năng lượng.

Toàn cảnh sự kiện. Ảnh: Ngọc Quỳnh/Bnews/vnanet.vn

Diễn đàn không chỉ phác họa bức tranh toàn cảnh về hiện trạng ngành công nghiệp hydrogen tại Việt Nam mà còn mở ra những hướng đi chiến lược nhằm hiện thực hóa mục tiêu Net-Zero vào năm 2050.

Phát biểu khai mạc diễn đàn, TS. Mai Duy Thiện, Chủ tịch VCEA, Tổng Biên tập Tạp chí Năng lượng sạch Việt Nam nhấn mạnh, thế giới đang chứng kiến một cuộc chuyển dịch năng lượng mạnh mẽ, từ nhiên liệu hóa thạch sang các nguồn năng lượng sạch.

Tại COP26, Việt Nam đã đưa ra cam kết mạnh mẽ về việc đạt mức phát thải ròng bằng "0" (Net-Zero) vào năm 2050. Theo đó, hydrogen – đặc biệt là hydrogen xanh – được xem là "mảnh ghép" đột phá, giải quyết bài toán giảm phát thải cho các lĩnh vực khó điện khí hóa như công nghiệp nặng, vận tải đường dài, hàng hải và hàng không.

Thể chế hóa tầm nhìn này, ngày 07/02/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 165/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Việt Nam đang định hướng phát triển năng lượng hydrogen theo một chuỗi giá trị đồng bộ, bao gồm: sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối và sử dụng. Mục tiêu dài hạn không chỉ là phục vụ nhu cầu nội địa mà còn hướng tới xuất khẩu, đưa Việt Nam trở thành một trung tâm công nghiệp năng lượng sạch của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Ngành công nghiệp hydrogen tại Việt Nam hiện đang ở vạch xuất phát. Theo PGS. Phạm Hoàng Lương, Giảng viên cao cấp Đại học Bách Khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch VCEA, toàn bộ sản lượng hydrogen của Việt Nam chỉ xấp xỉ 500 nghìn tấn/năm và vẫn là hydrogen nâu (từ than) và xám (từ khí tự nhiên không thu hồi carbon). Việt Nam chưa có dự án hydrogen xanh lá hoặc xanh lam thương mại nào được vận hành.

Nguồn hydrogen sản xuất trong nước chủ yếu phục vụ nhu cầu nội bộ của các nhà máy lọc dầu (như Dung Quất, Nghi Sơn) và nhà máy phân đạm (Phú Mỹ, Cà Mau, Ninh Bình, Hà Bắc). Sự phụ thuộc này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển các nguồn cung hydrogen mới, sạch và bền vững hơn.

Một hướng tiếp cận đầy hứa hẹn cũng được đưa ra thảo luận là tiềm năng của "hydrogen trắng" hay hydrogen tự nhiên. TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, cho biết, hydro tự nhiên là ‘ẩn số tiềm năng’ trong xu hướng trung hòa carbon. Nó tồn tại sẵn trong lòng đất, có thể khai thác trực tiếp với chi phí thấp và không phát thải.

Việt Nam có những đặc điểm địa chất thuận lợi như nằm trên vành đai kiến tạo phức tạp, có nhiều đứt gãy sâu, đá siêu mafic và hệ thống suối nước nóng – những điều kiện lý tưởng cho quá trình hình thành và lưu giữ hydrogen tự nhiên. Việc đẩy mạnh thăm dò và khai thác "nguồn vàng trắng" này có thể mang lại lợi ích chiến lược, giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào LNG và than nhập khẩu.

Bên cạnh khai thác tự nhiên, sản xuất hydrogen xanh từ điện phân nước bằng năng lượng tái tạo là trụ cột chính trong chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay là hạ tầng, công nghệ và chi phí.

Việt Nam có tiềm năng khổng lồ về điện gió và điện mặt trời, đặc biệt là điện gió ngoài khơi với trữ lượng kỹ thuật ước tính lên tới 600 GW. TS. Dư Văn Toán từ Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển nhận định: Việc tích hợp sản xuất hydrogen vào các dự án điện gió ngoài khơi (mô hình OW2H) mang lại cơ hội lớn.

"Việt Nam có lợi thế với phần lớn diện tích thềm lục địa là vùng biển nông, thuận lợi để áp dụng công nghệ móng cố định giúp tiết kiệm chi phí đầu tư. Hơn nữa, việc tích hợp sản xuất hydro ngoài khơi có thể giải quyết bài toán tắc nghẽn lưới điện truyền tải vào bờ”, TS. Toán phân tích. Dù vậy, ông cũng lưu ý những thách thức không nhỏ về mặt chi phí đầu tư ban đầu, yêu cầu nguồn nước sạch (khử muối) và sự phức tạp trong bảo trì thiết bị ngoài khơi.

Trong khi đó, việc ứng dụng hydrogen vào giao thông vận tải – một trong những nguồn phát thải chính – cũng cần một lộ trình thận trọng. TS. Nguyễn Hữu Lương từ Viện Dầu Khí Việt Nam khuyến nghị, hydrogen không nên được xem là sự thay thế hoàn toàn cho xe điện (BEV), mà là giải pháp bổ sung cho các phân khúc khó điện khí hóa như xe tải nặng, xe buýt liên tỉnh hay vận tải biển. Việc phát triển trạm nạp cũng cần đồng bộ với nhu cầu thực tế dọc các hành lang vận tải trọng điểm, tránh tình trạng đầu tư lãng phí khi chưa có đủ phương tiện.

Xuyên suốt các phiên thảo luận tại diễn đàn, một thông điệp rõ ràng được đưa ra: Công nghệ đã sẵn sàng, nhưng chính sách mới là "chìa khóa" mở cánh cửa cho ngành công nghiệp hydrogen.

Các chuyên gia đồng tình rằng, để thu hút nguồn vốn khổng lồ từ tư nhân và quốc tế cần khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý. Điều này bao gồm việc ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn cho toàn chuỗi giá trị từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển đến trạm nạp.

Hơn nữa, cần có cơ chế giá, chính sách ưu đãi đầu tư, tín dụng xanh và các biện pháp hỗ trợ tài chính để thu hẹp khoảng cách chi phí giữa hydrogen xanh và nhiên liệu hóa thạch truyền thống trong giai đoạn đầu.

Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để không chỉ làm sạch nền kinh tế, mà còn vươn lên thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng năng lượng xanh toàn cầu. Để "kỷ nguyên hydrogen" thực sự bắt đầu, sự quyết liệt trong hành động từ Chính phủ, sự dấn thân của cộng đồng doanh nghiệp và việc tận dụng tối đa các nguồn lực quốc tế sẽ là những yếu tố quyết định.

Ngọc Quỳnh/bnews/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục