Kết nối hệ sinh thái tài chính đảm bảo mục tiêu tăng trưởng hai con số

16:39' - 13/04/2026
BNEWS Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn tới, bài toán khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức chiều 13/4 tại Hà Nội đặt ra vấn đề: không chỉ là quy mô vốn, điều quan trọng hơn là cách thức tổ chức, dẫn dắt và phân bổ dòng vốn sao cho hiệu quả, bền vững và có khả năng lan tỏa cao trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới - nơi tăng trưởng không chỉ dựa vào mở rộng quy mô mà còn dựa vào chất lượng, công nghệ và năng lực cạnh tranh - thì hệ thống tài chính cũng phải chuyển mình tương ứng.

Từ chỗ cung ứng vốn đơn thuần, hệ thống này cần tiến tới một mô hình kết nối hệ sinh thái, nơi các chủ thể tài chính, doanh nghiệp và thị trường vốn cùng vận hành trong một cấu trúc đồng bộ, hiệu quả.

Kết nối hệ sinh thái tài chính

Chia sẻ tại Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế", Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh nhấn mạnh: “Hệ thống các tổ chức tín dụng đã luôn đồng hành, bứt phá, đóng góp vào sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung”.

Theo đó, nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, hệ thống ngân hàng đã đóng vai trò trụ cột trong cung ứng vốn cho nền kinh tế. Quy mô tín dụng không ngừng mở rộng, góp phần quan trọng vào phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư hạ tầng và ổn định kinh tế vĩ mô.

 

Cụ thể, tính đến ngày 31/12/2025, hệ thống ngân hàng gồm 127 tổ chức tín dụng với tổng tài sản gần 28,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với cuối năm 2024, tăng gấp gần 2.000 lần trong gần 40 năm; huy động vốn tăng 15,42% so với cuối năm 2024, tăng gấp gần 1.300 lần trong gần 40 năm; trong đó, một số ngân hàng có quy mô lớn, có thứ hạng xếp hạng cao trên thị trường quốc tế.

Cũng theo Phó Thống đốc, đối với các tập đoàn kinh tế, ngành ngân hàng luôn xác định đây là đối tượng khách hàng lớn truyền thống, có uy tín, sẵn sàng cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đầu tư các dự án lớn có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng, đảm bảo tiến độ, hiệu quả.

Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt khoảng 18,6 triệu tỷ đồng, tăng 19,07% so với cuối năm 2024, chiếm 144% GDP của nền kinh tế, trong đó dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 48% tổng dư nợ nền kinh tế, dư nợ đối với các tập đoàn, tổng công ty chiếm khoảng 7% dư nợ nền kinh tế.

"Ngoài ra, ngành ngân hàng đã thực hiện các giải pháp nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong toàn hệ thống, phát triển các sản phẩm, dịch vụ thanh toán hiện đại, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn tín dụng", ông Nguyễn Ngọc Cảnh nói thêm.

Chưa dừng ở đó, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, đồng bộ, nhằm vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận vốn cho mọi thành phần kinh tế.

Những nỗ lực này đã giúp duy trì dòng vốn cho nền kinh tế ngay cả trong những giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, khi nhu cầu vốn ngày càng lớn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn cho các dự án chiến lược, mô hình cung ứng vốn truyền thống bộc lộ những giới hạn.

Áp lực cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng ngày càng tăng trong bối cảnh thị trường vốn chưa phát triển tương xứng. Tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức cao phản ánh sự phụ thuộc lớn vào kênh ngân hàng, trong khi các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu hay nguồn vốn quốc tế vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò.

Ở góc độ nghiên cứu, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học, Học viện Ngân hàng nhận định: “Cải cách hệ thống tài chính và phát triển thị trường vốn là điều kiện tiên quyết để tạo lập các tập đoàn kinh tế có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế”.

Điều này đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tài chính từ “đơn kênh” sang “đa tầng, đa kênh”, trong đó các cấu phần của hệ thống tài chính phải được kết nối chặt chẽ để tạo thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh.

Dẫn vốn đúng hướng, tạo lực tăng trưởng mới

Trong giai đoạn phát triển mới, vấn đề không chỉ là có vốn, mà là dẫn vốn đúng nơi, đúng thời điểm và đúng cấu trúc. Đây chính là vai trò cốt lõi của một hệ sinh thái tài chính hiện đại.

Theo ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB), yêu cầu đặt ra đối với hệ thống tài chính hiện nay không chỉ dừng ở cung ứng vốn mà còn phải đóng vai trò kết nối: “Cần những định chế tài chính đủ năng lực để kết nối nguồn lực, dẫn vốn đúng trọng tâm và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế”.

Thực tế, nhiều ngân hàng đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng này. Như tại SHB, thay vì chỉ cấp tín dụng, ngân hàng còn phát triển các giải pháp thanh toán, quản lý dòng tiền, tài trợ chuỗi cung ứng, giải pháp số và đồng hành cùng vận hành tài chính tổng thể của doanh nghiệp.

"Điều đó cho thấy SHB không chỉ xuất hiện ở điểm đầu của dòng vốn, mà ngày càng tham gia sâu hơn vào cấu trúc vận hành tài chính của khách hàng. Một ngân hàng như vậy không chỉ là người cho vay, mà là người hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa dòng tiền, giảm chi phí vận hành, kết nối dịch vụ tài chính và qua đó nâng cao hiệu quả tăng trưởng", ông Đỗ Quang Vinh khẳng định bước tiến về chất trong vai trò của ngân hàng.

Đáng chú ý, cách tiếp cận hệ sinh thái cho phép mở rộng phạm vi hỗ trợ từ một doanh nghiệp sang toàn bộ mạng lưới liên kết của doanh nghiệp đó. Khi ngân hàng đồng hành cùng cả chuỗi giá trị, từ nhà cung cấp, nhà phân phối đến đối tác và khách hàng, dòng vốn sẽ được lan tỏa sâu rộng hơn, tạo hiệu ứng cộng hưởng cho toàn bộ nền kinh tế.

Ở tầm vĩ mô, việc kết nối hệ sinh thái tài chính còn giúp nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Các dòng vốn được dẫn dắt vào các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, năng lượng, công nghệ cao, nông nghiệp hiện đại, những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn và đóng vai trò động lực tăng trưởng.

Tuy nhiên, để hệ sinh thái tài chính vận hành hiệu quả, cần có sự phát triển đồng bộ của thị trường vốn. Thực tế, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng chỉ ra rằng thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các công cụ tài chính dài hạn tại Việt Nam vẫn còn hạn chế về quy mô, tính minh bạch và độ sâu. Đây chính là điểm nghẽn khiến dòng vốn dài hạn chưa được khơi thông.

Do đó, vị chuyên gia nhận định việc hoàn thiện thể chế, nâng cao chuẩn mực quản trị doanh nghiệp, phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm và mở rộng cơ sở nhà đầu tư là những yếu tố then chốt. Đồng thời, cần thúc đẩy kết nối giữa thị trường tài chính trong nước với quốc tế để đa dạng hóa nguồn vốn, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi một nền tảng tài chính đủ mạnh để hỗ trợ các động lực tăng trưởng. Trong đó, các tập đoàn kinh tế cả nhà nước và tư nhân sẽ đóng vai trò đầu tàu, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực và chuỗi giá trị.

Tuy nhiên, để các “đầu tàu” này vận hành hiệu quả, cần một hệ thống tài chính đóng vai trò “kết nối” thay vì chỉ “cung cấp”. Khi dòng vốn được tổ chức theo hệ sinh thái, không chỉ doanh nghiệp lớn mà cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, các mắt xích trong chuỗi cung ứng cũng được tiếp cận nguồn lực, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh chung của nền kinh tế.

"Việc tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân bằng, hiện đại và hội nhập quốc tế sẽ là điều kiện tiên quyết để các tập đoàn kinh tế Việt Nam tập hợp đủ nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành các “doanh nghiệp dẫn dắt” có tầm vóc khu vực và toàn cầu", PGS.TS Phạm Mạnh Hùng nhấn mạnh.

Khơi thông nguồn vốn, vì vậy, cần được nhìn nhận như một quá trình tái cấu trúc toàn diện hệ thống tài chính. Đó là quá trình chuyển từ cung ứng vốn sang kiến tạo dòng chảy vốn; từ hỗ trợ riêng lẻ sang kết nối hệ sinh thái; từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu theo tinh thần chỉ đạo tại Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục