Khoa học công nghệ thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp Hà Nội

  • Bnews/TTXVN

BNEWS Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang mở ra hướng phát triển mới cho nông nghiệp Thủ đô, từ tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng đến quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản.

 

 

Vùng sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGap. Ảnh: TTXVN

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang mở ra hướng phát triển mới cho nông nghiệp Thủ đô, từ tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng đến quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản. Đây là giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm và thúc đẩy phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn.

Đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao giá trị nông sản

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, thông qua triển khai các kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chương trình phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, sản xuất nông nghiệp của thành phố đang từng bước chuyển dịch theo hướng hiện đại, xanh và bền vững.

Hà Nội đã hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, gắn với điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường. Trong đó, diện tích lúa chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa đạt 39.202 ha, chiếm 42% diện tích đất trồng lúa hai vụ; diện tích rau xanh đạt 3.915 ha, chiếm khoảng 56,8% diện tích canh tác rau. Thành phố có 1.818 ha hoa, cây cảnh tại 30 xã, phường; 6.650 ha cây ăn quả có giá trị kinh tế cao tại 57 xã, phường và 7.677 ha nuôi trồng thủy sản tập trung tại 38 xã.

Cùng với tổ chức lại các vùng sản xuất, Hà Nội đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa và công nghệ cao nhằm giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và hạn chế tác động đến môi trường. Toàn thành phố hiện có 406 mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gồm 262 mô hình trồng trọt, 119 mô hình chăn nuôi và 25 mô hình thủy sản. Dù phần lớn chưa ứng dụng đồng bộ công nghệ cao trên quy mô lớn, các mô hình đã cho thấy khả năng thích ứng với điều kiện sản xuất của Thủ đô.

Trong trồng trọt, nhiều tiến bộ kỹ thuật được đưa vào sản xuất, từ hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI), cơ giới hóa gieo cấy đến quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Diện tích áp dụng SRI toàn phần mỗi vụ đạt khoảng 10% diện tích sản xuất. Mô hình này góp phần tăng năng suất, cải thiện thu nhập cho người trồng lúa, đồng thời giảm lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, số lần tưới nước và phát thải khí nhà kính.

Việc sử dụng mạ khay, máy cấy cũng từng bước thay thế phương thức gieo cấy thủ công, giúp giảm công lao động, tiết kiệm chi phí và bảo đảm mật độ, khoảng cách giữa các khóm lúa. Bà Đỗ Thị Huyền, Trưởng thôn Xuân Kỳ, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Phú Thọ cho biết, phương pháp này giúp rút ngắn thời gian sản xuất mạ, giảm lượng thóc giống sử dụng trên mỗi sào ruộng. Cấy bằng máy còn tạo điều kiện thuận lợi để cây lúa sinh trưởng, đẻ nhánh và duy trì năng suất.

Diện tích áp dụng IPM đạt trên 80% diện tích lúa, 50% diện tích cây màu, 40% diện tích cây hoa và 60% diện tích rau, quả, chè. Việc áp dụng mô hình này giúp người sản xuất chủ động quản lý dịch hại, hạn chế lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.

Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Hà Nội Nguyễn Thị Kim Quế cho biết, thành phố định hướng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa đồng bộ, sử dụng giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao, hướng tới nền sản xuất xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trong chăn nuôi, các giải pháp xử lý chất thải như hầm biogas, máy ép phân, ao sinh học, hệ thống xử lý nước thải, đệm lót sinh học và công nghệ vi sinh được chú trọng. Đối với nuôi trồng thủy sản, trên 40% diện tích của thành phố sử dụng chế phẩm sinh học và máy quạt nước. Công nghệ vi sinh giúp cải thiện môi trường nuôi, hạn chế thay nước, giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh, góp phần tạo ra sản phẩm thủy sản an toàn.

Tại Hợp tác xã Sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ công nghệ cao Cuối Quý, xã Đan Phượng, việc ứng dụng công nghệ gắn với kiểm soát quy trình sản xuất đang mang lại những chuyển biến tích cực. Giám đốc hợp tác xã Đặng Thị Cuối cho biết, với 5 ha trồng đa dạng các loại rau, củ, đơn vị ứng dụng công nghệ cao để kiểm soát các khâu từ xuống giống, chăm sóc đến thu hoạch. Sản xuất trong nhà màng giúp chủ động phòng ngừa dịch bệnh, hạn chế ảnh hưởng bất lợi của thời tiết, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Nông trại Nông nghiệp xanh (Thạch Thất, Hà Nội). Ảnh: Bích Hồng/Bnews.vnanet.vn

Số hóa quản lý, minh bạch nguồn gốc nông sản

Bên cạnh đổi mới phương thức sản xuất, Hà Nội xác định ứng dụng công nghệ số trong quản lý và truy xuất nguồn gốc là giải pháp quan trọng để kiểm soát chất lượng nông sản, nâng cao tính minh bạch của chuỗi cung ứng thực phẩm.

Theo ông Bùi Duy Cường, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, thành phố đang từng bước đưa công nghệ và dữ liệu vào quản lý sản xuất tại cơ sở. Từ năm 2018, Hà Nội đã triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, lâm sản, thủy sản tại địa chỉ check.hanoi.gov.vn; tổ chức hướng dẫn, tập huấn cho trên 3.336 cơ sở và quản lý 13.207 bộ mã truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Cùng với đó, thành phố phối hợp với các địa phương hình thành và kiểm soát 1.388 chuỗi cung ứng nông sản, thực phẩm an toàn. Với hơn 3.400 sản phẩm OCOP, Hà Nội cũng triển khai các chương trình quảng bá, kết nối tiêu thụ, góp phần đưa sản phẩm đặc trưng của địa phương đến gần hơn với người tiêu dùng.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc được duy trì, từng bước kết nối với Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thành phố đã đăng ký bốn nhóm sản phẩm ưu tiên gồm thịt lợn, thịt gà, rau và chè. Việc chuẩn hóa thông tin về cơ sở sản xuất, sản phẩm, lô hàng và chứng thực lưu thông sẽ tạo cơ sở phục vụ công tác quản lý, giám sát và kiểm soát an toàn thực phẩm.

Theo ông Bùi Duy Cường, thành phố tiếp tục hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, chuẩn hóa thông tin cốt lõi và tăng cường kết nối với hệ thống dữ liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đồng thời, Hà Nội đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất, giám sát, cảnh báo và truy xuất nguồn gốc; hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp và nông dân nâng cao kỹ năng số, thực hiện trách nhiệm trong truy xuất nguồn gốc chuỗi cung ứng thực phẩm.

Thành phố ưu tiên xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu nông nghiệp, tạo nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và phân tích dữ liệu. Nền tảng nông nghiệp số dùng chung được định hướng tích hợp thông tin về vùng sản xuất, giám sát bằng IoT, hệ thống thông tin địa lý (GIS), truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường. Qua đó, phương thức quản lý từng bước chuyển từ thủ công, bị động sang giám sát theo thời gian thực, cảnh báo sớm và điều hành dựa trên dữ liệu.

Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã được phê duyệt, thành phố định hướng ổn định các vùng sản xuất chuyên canh, bảo vệ vành đai xanh và hành lang xanh dọc các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống. Đồng thời, Hà Nội thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp chính xác và nông nghiệp công nghệ cao thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn không chỉ là yêu cầu đổi mới sản xuất mà còn là giải pháp bảo đảm nguồn cung thực phẩm an toàn, rõ nguồn gốc cho người dân Thủ đô, bảo vệ môi trường và duy trì sinh kế bền vững cho nông dân. Việc kết hợp ứng dụng khoa học, công nghệ với số hóa quản lý và truy xuất nguồn gốc sẽ tạo nền tảng để nông nghiệp Hà Nội nâng cao giá trị gia tăng, phát triển theo chuỗi và đóng góp vào xây dựng đô thị xanh, bền vững.


Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục