Không để chính sách an toàn thực phẩm "nằm chờ" nghị định, thông tư

  • Theo vnanet.vn

BNEWS Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, an toàn thực phẩm là câu chuyện của từng bữa ăn, từng gia đình, từng người dân, nhưng đồng thời cũng liên quan trực tiếp đến sức khỏe giống nòi và uy tín quốc gia.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN

Chiều 24/10, thảo luận ở tổ về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ, an toàn thực phẩm là câu chuyện của từng bữa ăn, từng gia đình, từng người dân, nhưng đồng thời cũng liên quan trực tiếp đến sức khỏe giống nòi và uy tín quốc gia.

Bày tỏ vui mừng vì trước đây “một mâm cơm có tới 3 bộ quản lý”, nhưng lần sửa đổi này hướng tới việc thống nhất “có một bộ quản lý", Chủ tịch Quốc hội cho biết, dự thảo Luật đã thể chế hóa các chủ trương lớn, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, quản lý theo chuỗi, dựa trên phân tích nguy cơ và lấy dữ liệu làm nền tảng.

Thống nhất đầu mối quản lý, không để đùn đẩy trách nhiệm

Nêu ra 4 vấn đề cần tập trung hoàn thiện đối với dự án Luật, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, thứ nhất, những nội dung đột phá phải được quy định ngay trong Luật, không để "nằm chờ" ở nghị định, thông tư. Dự thảo Luật có 32/74 tổng số điều giao Chính phủ, Bộ trưởng quy định chi tiết nhưng một số nội dung được xác định là đột phá lại để ngỏ, chưa được quy định cụ thể trong Luật như: lộ trình áp dụng thực hành vệ sinh tốt, hệ thống quản lý tiên tiến, phương thức phân tích nguy cơ và kiểm tra thực phẩm nhập khẩu...

Nhấn mạnh “Quốc hội không thể thông qua một đạo luật mà ‘phần vỏ’ nằm trong Luật, còn ‘phần ruột’ của chính sách lại chờ nghị định, thông tư”, Chủ tịch Quốc hội đồng thời nêu lại bài học từ việc phải tạm dừng hiệu lực Nghị định số 46/2026/NĐ-CP vẫn còn rất mới; yêu cầu những nội dung đã rõ, đã chín phải được luật hóa ngay. Tối thiểu là phải luật hóa rõ đối tượng áp dụng, các yêu cầu cơ bản và thời hạn hoàn thành từng lộ trình.

Thứ hai, phải có một đầu mối quản lý thật, chịu trách nhiệm đến cùng. Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban Bí thư đã xác định rõ yêu cầu thống nhất đầu mối quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, dự thảo Luật vẫn duy trì sự tham gia quản lý chuyên ngành của 6 bộ, trong khi Bộ Y tế được xác định là đầu mối nhưng nhiều nhiệm vụ vẫn được giao cho các bộ khác chủ trì hoặc phối hợp.

Chủ tịch Quốc hội dẫn chứng, việc chống thực phẩm giả, trách nhiệm kiểm tra được giao cho nhiều cơ quan. Đối với thực phẩm nhập khẩu, trách nhiệm cũng có sự tham gia của Bộ Y tế và UBND cấp tỉnh. Thực tiễn cho thấy, nhiều đầu mối cùng quản lý có thể dẫn đến nguy cơ đùn đẩy trách nhiệm tại những khâu giáp ranh. Các đường dây sản xuất, kinh doanh sữa giả, thực phẩm chức năng giả quy mô lớn bị phát hiện thời gian qua đã "lọt qua" những kẽ hở đó.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra rà soát kỹ vấn đề này, bảo đảm quy định của Luật phù hợp với chủ trương đề ra. Mỗi nhiệm vụ phải có một cơ quan chịu trách nhiệm chính; cơ quan đầu mối phải được trao đủ thẩm quyền, bảo đảm thực quyền; Chính phủ báo cáo Quốc hội hằng năm về kết quả thực hiện.

Thứ ba, hậu kiểm không phải là buông lỏng; cải cách thủ tục phải mang lại hiệu quả thực chất. Đồng tình với việc không đặt ra quá nhiều thủ tục trước khi doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường, nhưng Chủ tịch Quốc hội lưu ý, khi đã chuyển sang hậu kiểm thì phải thực chất, không buông lỏng được. Mục tiêu quản lý là chính đáng, nhưng công cụ quản lý phải là dữ liệu, không bắt doanh nghiệp nộp lại giấy tờ.

Luật cần có cơ chế gia hạn tự động trực tuyến đối với các hồ sơ đủ điều kiện; không yêu cầu nộp lại hồ sơ và thu phí tiếp nhận nếu không có thay đổi cần thẩm định; tiếp nhận hồ sơ chỉ là ghi nhận để phục vụ hậu kiểm, không trở thành điều kiện. Đồng thời, cần thu hẹp diện phải đăng ký vào những nhóm sản phẩm thực sự có nguy cơ cao, không để lợi ích nhóm len lỏi vào quá trình cấp giấy phép, chứng nhận.

"Thông thoáng cho người làm ăn chân chính, nhưng phải nghiêm khắc với kẻ gian dối. Người chân chính, tuân thủ pháp luật phải được bảo vệ; người vi phạm phải kiểm tra gắt gao để kịp thời phát hiện và xử lý", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Vấn đề thứ tư được Chủ tịch Quốc hội đề cập là hậu kiểm phải có đủ nhân lực, phương tiện và chế tài đủ sức răn đe. Cho rằng năng lực thử nghiệm, hệ thống dữ liệu và nguồn lực thực hiện hậu kiểm hiện vẫn là những vấn đề cần được làm rõ, theo Chủ tịch Quốc hội, cần xác định cụ thể nguồn lực, phương án đầu tư và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Đặc biệt, phải làm rõ điều kiện bảo đảm thực thi tại cấp xã, bởi "nếu không có phòng thí nghiệm, dữ liệu và con người thì chỉ là ‘hậu kiểm trên giấy’”.

Đề cập các vụ ngộ độc thực phẩm tập thể tại trường học, Chủ tịch Quốc hội cho rằng việc xác định nguyên nhân trong một số trường hợp còn chậm, làm mất thời gian quan trọng để xử lý và hạn chế hậu quả. Vì vậy, cần quy định bắt buộc kích hoạt cảnh báo trên hệ thống trong vòng 2-6 giờ khi phát hiện ngộ độc thực phẩm tập thể.

Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, trong đó có trách nhiệm liên đới bồi thường khi có đủ căn cứ pháp luật; đồng thời bổ sung hình thức cấm hành nghề có thời hạn hoặc vĩnh viễn đối với các trường hợp cố ý vi phạm, có tính chất đặc biệt nghiêm trọng.

Nhấn mạnh yêu cầu tăng tính răn đe của chế tài, Chủ tịch Quốc hội lưu ý không để chi phí vi phạm thấp hơn chi phí tuân thủ. Những chủ thể cố tình gây nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng vì lợi nhuận phải bị xử lý nghiêm, thậm chí bị loại khỏi thị trường khi cần thiết.

Cần cơ chế kiểm soát chặt chẽ

Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Trần Thị Nhị Hà phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Liên quan đến dự án Luật này, đại biểu Trần Thị Nhị Hà (Hà Nội) bày tỏ ủng hộ việc sửa đổi toàn diện Luật An toàn thực phẩm nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, bảo vệ sức khỏe người dân, khắc phục sự phân tán trách nhiệm và chuyển mạnh sang phòng ngừa, kiểm soát nguy cơ trong toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm, nhưng nhấn mạnh dự thảo hiện tại còn mờ nhạt trong quản lý thực phẩm từ gốc (trồng trọt, chăn nuôi) và thiếu sự nhất quán trong việc áp dụng phân tích nguy cơ. Bà đề nghị hoàn thiện cơ chế kiểm nghiệm, làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành trong phối hợp liên ngành, đồng thời khắc phục những mâu thuẫn về định nghĩa sản phẩm và thủ tục hành chính nhằm đảm bảo tính khả thi và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Đại biểu cho rằng dự thảo Luật cần thể hiện nhất quán nguyên tắc quản lý dựa trên nguy cơ, liên thông kết quả phân tích nguy cơ với việc phân loại sản phẩm và cơ sở. Theo đại biểu, khoản 2 Điều 51 quy định kết quả phân tích nguy cơ không phải là căn cứ phân loại đối tượng áp dụng các thủ tục công bố sản phẩm và cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, khiến một căn cứ khoa học quan trọng chưa được sử dụng đầy đủ trong các quyết định quản lý.

Đại biểu đề nghị sửa đổi quy định này theo hướng sử dụng kết quả đánh giá nguy cơ cùng với đặc tính sản phẩm, mục đích sử dụng, nhóm người sử dụng, quy mô và lịch sử tuân thủ để xác định, rà soát, điều chỉnh đối tượng và mức độ áp dụng biện pháp quản lý. Nguyên tắc này cần được thực hiện xuyên suốt từ điều kiện cơ sở, công bố sản phẩm, kiểm tra nhập khẩu đến hậu kiểm, lựa chọn mẫu và tần suất giám sát.

Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan nhấn mạnh nguyên tắc xuyên suốt trong xây dựng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) là sức khỏe người dân trên hết, trước hết, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, không gây ách tắc cho phát triển kinh tế - xã hội.

Theo Bộ trưởng, dự thảo luật tập trung vào 5 nhóm giải pháp chính: quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi; cắt giảm thủ tục hành chính; số hóa thông tin, dữ liệu; quản lý thực phẩm kinh doanh trên nền tảng điện tử; xác định một cơ quan đầu mối quản lý thống nhất. Trong đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu để ghi nhận lịch sử tuân thủ, vi phạm của doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để điều chỉnh tần suất kiểm tra, thực hiện hậu kiểm và công khai thông tin sản phẩm không bảo đảm an toàn.

Bộ trưởng cho rằng cần có cơ chế kiểm soát đủ chặt, không thể để doanh nghiệp tự do sản xuất, kinh doanh rồi mới yêu cầu bảo đảm an toàn. Việc đăng ký sản phẩm được thiết kế theo hướng tự động, gắn với hệ thống dữ liệu để giảm thủ tục hành chính, đồng thời giúp cơ quan chức năng nhận diện nguy cơ, kịp thời kiểm tra, thu hồi sản phẩm vi phạm và cung cấp thông tin cho người tiêu dùng.


Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục