Làm rõ cơ sở xây dựng cơ chế riêng cho công nghiệp văn hóa

  • Theo vnanet.vn

BNEWS Khi thiết kế các cơ chế về sở hữu trí tuệ trong Luật, phải xác định đúng khoảng trống, điểm mờ, điểm nghẽn thực sự cần được xử lý, không quy định lại những nội dung đã được các luật khác quy định.

Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Nguyễn Phương Thủy phát biểu. Ảnh: An Đăng - TTXVN

Chiều 24/10, thảo luận tại tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Nguyễn Phương Thủy (Hà Nội) nhấn mạnh yêu cầu khi thiết kế các cơ chế về sở hữu trí tuệ trong Luật, phải xác định đúng khoảng trống, điểm mờ, điểm nghẽn thực sự cần được xử lý, không quy định lại những nội dung đã được các luật khác quy định. Tuy nhiên, cần chứng minh vì sao cần cơ chế riêng cho công nghiệp văn hóa và làm rõ hệ quả pháp lý của từng cơ chế mới được đề xuất, nếu không, chúng ta có thể tạo ra thêm một tầng thủ tục mà chưa chắc tháo gỡ được những khó khăn trong thực tiễn.

Đồng tình với chủ trương xây dựng nền tảng số để hỗ trợ người sáng tạo lưu giữ thông tin, quản lý quá trình sáng tạo và chuẩn bị hồ sơ liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, đại biểu Nguyễn Phương Thủy cho rằng, cần làm rõ hơn giá trị pháp lý của thông tin được ghi nhận trên nền tảng. Theo pháp luật về sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký; trong khi quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp có những điều kiện xác lập khác nhau. Vì vậy, nhật ký sáng tạo hoặc dấu thời gian do nền tảng ghi nhận có thể hỗ trợ chứng minh quá trình hình thành tác phẩm, nhưng không mặc nhiên xác lập quyền hoặc chứng minh người đưa tác phẩm lên hệ thống chính là tác giả hay chủ sở hữu hợp pháp.

Bà ví dụ, một người tải một bản nhạc lên nền tảng và được hệ thống ghi nhận tại thời điểm tải lên. Thông tin này có thể hỗ trợ chứng minh bản nhạc này đã tồn tại vào thời điểm đó, nhưng chưa đủ để kết luận người tải lên chính là người sáng tác, nhất là khi có tranh chấp về sao chép hoặc chuyển giao quyền.

Đại biểu Thủy đề nghị làm rõ nền tảng số có chức năng hỗ trợ ghi nhận, quản lý thông tin và chuẩn bị hồ sơ, không thay thế cơ chế xác lập, đăng ký quyền hoặc giải quyết tranh chấp theo pháp luật về sở hữu trí tuệ. Đồng thời, việc kết nối với các hệ thống đăng ký hiện hành cần phải được thiết kế theo hướng liên thông, tránh hình thành một hệ thống dữ liệu hoặc là thủ tục song song.

Đánh giá cao định hướng của dự thảo Luật trong việc thúc đẩy khai thác giá trị kinh tế của quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là khả năng sử dụng quyền này để góp vốn và làm tài sản bảo đảm tại Điều 11, đại biểu Thủy nhìn nhận đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa đối với doanh nghiệp công nghiệp văn hóa, bởi giá trị của doanh nghiệp đôi khi nằm ở bản quyền, quyền khai thác phim, âm nhạc, phần mềm, thiết kế hoặc những tài sản sáng tạo khác chứ không chỉ ở nhà xưởng, máy móc hay bất động sản.

“Tuy nhiên, cũng cần đặt quy định này trong mối quan hệ với pháp luật hiện hành”, nhấn mạnh điều này, đại biểu phân tích, quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ đã được pháp luật công nhận; pháp luật dân sự, doanh nghiệp và giao dịch bảo đảm cũng đã có cơ sở pháp lý cho việc góp vốn bằng tài sản và xác lập biện pháp bảo đảm đối với quyền tài sản khi đáp ứng các điều kiện tương ứng. Luật Sở hữu trí tuệ vừa được sửa đổi năm 2025 đã bổ sung chính sách hỗ trợ xác định giá trị, chuyển nhượng, cấp phép và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Vì vậy, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không cần khẳng định lại quyền được góp vốn hoặc dùng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm, mà cần xác định rõ những vướng mắc thực tế nào đang cản trở việc thực hiện các quyền đó và cơ chế mới của dự thảo sẽ tháo gỡ được những vướng mắc nào.

“Không phải mọi quyền sở hữu trí tuệ đều có thể được xử lý giống nhau. Quyền nhân thân của tác giả không thể đồng nhất với quyền tài sản có thể chuyển giao hoặc khai thác thương mại. Ngay cả đối với quyền tài sản thì phạm vi quyền, thời hạn bảo hộ, điều kiện chuyển nhượng và khả năng tạo ra doanh thu cũng rất khác nhau”, đại biểu nói.

Theo bà, một doanh nghiệp có quyền khai thác thương mại đối với một bộ phim có thể tạo ra doanh thu từ rạp chiếu, truyền hình hoặc nền tảng trực tuyến, nhưng giá trị của các quyền đó lại phụ thuộc vào phạm vi khai thác mà doanh nghiệp thực sự nắm giữ, thời hạn được khai thác cũng như các hợp đồng đã ký và khả năng tạo doanh thu trong tương lai. Không thể chỉ căn cứ vào mức độ nổi tiếng của bộ phim để kết luận về giá trị tài sản bảo đảm. Do đó, dự thảo Luật cần phải làm rõ việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, bảo đảm tín dụng phải tuân theo đặc điểm pháp lý của từng loại quyền và các điều kiện tương ứng của pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về dân sự.

Cho rằng cần phân biệt rõ giữa định giá tài sản và quyết định cấp tín dụng, đại biểu Thủy nêu quan điểm, quy định của Luật cần khuyến khích phát triển thị trường và nâng cao chất lượng thông tin, nhưng không nên làm hạn chế quyền đánh giá rủi ro của tổ chức tín dụng theo pháp luật về các tổ chức tín dụng. Để chính sách tại Điều 11 thực sự phát huy hiệu quả, cần quan tâm không chỉ việc cho phép sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm, mà còn phải giải quyết được bài toán về xác minh quyền, định giá, quản trị rủi ro và khả năng xử lý tài sản khi bên vay không trả được nợ.

Bà cũng cho rằng, nhiều quy định khác trong dự thảo Luật này cần phải tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tránh mâu thuẫn, chồng chéo, khó triển khai trên thực tiễn.

Nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Hoàng Văn Nghĩa (Quảng Ngãi) nhận định, việc xây dựng và trình Quốc hội dự án Luật này có ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Luật đã kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị quyết số 33-NQ/TW và Kết luận số 18-KL/TW của Chấp hành Trung ương Đảng, đặc biệt là quan điểm coi văn hóa là nguồn lực nội sinh, đột phá phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, dự thảo Luật đã thiết lập được hành lang pháp lý hoàn chỉnh, quy định 6 nhóm chính sách đột phá vượt trội nhằm khơi thông các nguồn lực tài chính, hạ tầng, trí tuệ và thị trường, tạo đà đưa văn hóa trở thành ngành kinh tế đóng góp quan trọng vào GDP và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Đề nghị làm rõ nội hàm "công nghiệp văn hóa", đại biểu Nghĩa cho biết, dự thảo hiện ghi "công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế...". Soi chiếu với Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC) theo pháp luật thống kê và thực tiễn quốc tế (UNESCO, Hàn Quốc, Trung Quốc), công nghiệp văn hóa không phải là một ngành sản xuất/dịch vụ đơn lẻ mà là một chuỗi giá trị tích hợp. Đại biểu đề nghị chỉnh lý thành: "công nghiệp văn hóa là tập hợp các ngành kinh tế..." hoặc "tập hợp các ngành, lĩnh vực kinh tế" hoặc "ngành kinh tế đặc thù" để bảo đảm tính chính xác về lý luận kinh tế học và phù hợp phân công quản lý nhà nước.

Cũng theo đại biểu Nghĩa, dự Luật cần khẳng định rõ việc phát triển công nghiệp văn hóa phải lấy bảo tồn, phát huy các giá trị di sản và bản sắc văn hóa dân tộc làm nền tảng cốt lõi. Trước sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, cần bổ sung hành vi bị nghiêm cấm "thu thập, sử dụng trái phép dữ liệu văn hóa, tác phẩm để huấn luyện các mô hình AI" và "sử dụng AI giả mạo hình ảnh, giọng nói, phong cách sáng tạo hoặc làm biến dạng bản sắc văn hóa dân tộc khi chưa được phép".



Tin cùng chuyên mục