Mở rộng kênh dẫn vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

  • Hương Giang – Hứa Chung/vnanet.vn

BNEWS Mặc dù chiếm gần 98% số doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chỉ chiếm 20% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế, vẫn đang đối mặt với bài toán thiếu vốn kéo dài.

Trong bối cảnh kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng của tăng trưởng như tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, nhiều ý kiến cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ doanh nghiệp, từ hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả các công cụ tài chính đến thiết kế lại hệ thống tài chính phù hợp hơn với đặc thù của khu vực này.

*Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp 

Mở rộng thị trường, đầu tư công nghệ, chuyển đổi số hay tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng là mục tiêu của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, để thực hiện được những kế hoạch đó, bài toán vốn vẫn là trở ngại lớn nhất. 

Mặc dù chiếm gần 98% số doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chỉ chiếm 20% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Ảnh minh họa: Tuấn Anh - TTXVN

Theo thống kê của Bộ Tài chính, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động nhưng tỷ lệ dư nợ tín dụng dành cho khu vực này mới chỉ khoảng 20% tổng dư nợ nền kinh tế. Khoảng cách giữa quy mô của khu vực doanh nghiệp với khả năng tiếp cận vốn cho thấy dư địa rất lớn để mở rộng dòng tín dụng, đồng thời cũng phản ánh những hạn chế của các công cụ hỗ trợ hiện nay. 

Dù đã có nhiều chính sách như Quỹ Phát triển DNNVV, Quỹ Bảo lãnh tín dụng hay các chương trình tín dụng ưu đãi…, khoảng 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận vốn ngân hàng, chủ yếu do thiếu tài sản bảo đảm. 

Không chỉ vậy, hiệu quả hoạt động của các quỹ hỗ trợ cũng chưa đạt kỳ vọng. Quy định quá chặt về bảo toàn vốn khiến Quỹ Bảo lãnh tín dụng thận trọng trong việc cấp bảo lãnh, làm dư nợ bảo lãnh liên tục thu hẹp, đến tháng 8/2024 chỉ còn khoảng 99,6 tỷ đồng. 

Một nguyên nhân quan trọng khác là năng lực hấp thụ chính sách của chính doanh nghiệp còn hạn chế. Hơn 93% DNNVV tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, có tiềm lực tài chính, công nghệ và nhân sự còn yếu, khó đáp ứng các yêu cầu về vốn đối ứng hoặc hoàn thiện hồ sơ theo quy định. 

Theo bà Đặng Huỳnh Ức My, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), doanh nghiệp hiện không chỉ đối mặt với khó khăn về vốn mà còn chịu áp lực từ thị trường và các quy định pháp lý. Vì vậy, các chính sách hỗ trợ cần hướng tới việc hình thành một hệ sinh thái phát triển đồng bộ, thay vì chỉ giải quyết những vướng mắc mang tính ngắn hạn. 

Theo bà My, VINASME đang tập trung hoàn thiện các cơ chế, chính sách cũng như điều kiện triển khai để có thể đồng hành với doanh nghiệp trong dài hạn. Một trong những trọng tâm là hỗ trợ quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh lên mô hình doanh nghiệp, giúp khu vực này đủ điều kiện tham gia sâu hơn vào thị trường chính thức. 

"Chúng tôi đi theo chủ trương đưa mô hình doanh nghiệp nhỏ và vừa đủ điều kiện tham gia vào thị trường chung, chứ không chỉ xây dựng những chính sách phục vụ các khó khăn tạm thời", bà My cho biết. 

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, VINASME sẽ tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp với các định chế tài chính, cơ quan quản lý và giới chuyên gia nhằm hoàn thiện các đề xuất chính sách trước khi trình cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, Hiệp hội cũng chú trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận đầy đủ và chính xác thông tin về các chính sách mới để nâng cao khả năng thực thi. 

Theo bà My, tín dụng chỉ là một mắt xích trong quá trình phát triển doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải có một mô hình kinh doanh đúng thì mô hình tài chính mới tiếp cận được với các quy định của các định chế tín dụng. Nếu mô hình kinh doanh chưa giải quyết được nhu cầu của thị trường thì ngay cả khi vay được vốn cũng rất khó phát triển. 

Trong thời gian tới, VINASME dự kiến hiện đại hóa phương thức vận hành, xây dựng các kênh kết nối trực tiếp với hội viên thay vì thông qua nhiều tầng nấc trung gian. Mô hình hỗ trợ cũng sẽ được triển khai theo hướng "sandbox" đối với từng cụm ngành nghề, đồng thời hình thành các chương trình riêng dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp xanh, doanh nghiệp do phụ nữ hoặc người khuyết tật làm chủ. 

Tiến sĩ Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách thuộc Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cũng cho rằng, việc nâng cao hiệu quả hỗ trợ DNNVV cần được tiếp cận theo hướng xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ, trong đó pháp luật minh bạch, công cụ chính sách đủ linh hoạt, bộ máy thực thi chuyên nghiệp và doanh nghiệp có đủ năng lực hấp thụ. 

Theo Tiến sĩ Hà Huy Ngọc, trọng tâm của cải cách không chỉ là tăng thêm nguồn lực hỗ trợ mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng thể chế và hiệu quả thực thi, chuyển từ mô hình hỗ trợ mang tính hành chính sang mô hình kiến tạo phát triển, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và lấy kết quả phát triển của doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả chính sách. 

*Đa dạng hóa kênh dẫn vốn 

Theo Tiến sĩ Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam, câu chuyện tiếp cận vốn của DNNVV đã được nhắc đến trong nhiều thập kỷ nhưng nguyên nhân cốt lõi vẫn chưa được xử lý. 

Ông Tuấn cho rằng, hệ thống tài chính hiện nay chủ yếu được thiết kế cho các doanh nghiệp quy mô lớn, có tài sản bảo đảm và báo cáo tài chính minh bạch. Trong khi đó, thị trường chứng khoán không phải là kênh huy động vốn phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, còn ngân hàng chủ yếu cho vay dựa trên tài sản bảo đảm.

Vì vậy, phần lớn doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh không đáp ứng được các điều kiện này, dẫn đến khó tiếp cận tín dụng chính thức. Muốn giải quyết căn cơ bài toán vốn cần tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng đa dạng hóa các kênh cung ứng vốn thay vì phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng. 

Theo vị chuyên gia, các định chế tín dụng phát triển như Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và Ngân hàng Chính sách Xã hội cần được giao đúng vai trò hỗ trợ DNNVV thông qua các chương trình tín dụng chuyên biệt. Trong khi đó, cơ chế hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cũng cần được điều chỉnh để khắc phục tình trạng nguồn lực còn nhưng khả năng bảo lãnh rất thấp do những ràng buộc về cơ chế quản trị và trách nhiệm. 

Một khoảng trống khác của hệ thống tài chính là mạng lưới các tổ chức tài chính vi mô. Việt Nam hiện mới chỉ có khoảng 6-7 tổ chức tài chính vi mô được cấp phép, quy mô còn rất nhỏ so với nhu cầu của khoảng 5-6 triệu hộ kinh doanh phi nông nghiệp. Do đó, cần hoàn thiện khung pháp lý để khuyến khích thành lập thêm các mô hình tài chính mới, tạo thêm kênh tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh. 

Song song với việc hoàn thiện hệ thống tài chính, Bộ Tài chính cũng đang đề xuất nhiều thay đổi trong dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV (sửa đổi) nhằm tháo gỡ những rào cản trong tiếp cận tín dụng. 

Theo bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Trưởng phòng Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), dự thảo Luật sẽ khuyến khích các tổ chức tín dụng đổi mới phương thức cho vay, chuyển từ mô hình dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang đánh giá doanh nghiệp thông qua dữ liệu, dòng tiền và chuỗi cung ứng.

Theo đó, các ngân hàng sẽ được khuyến khích phát triển các sản phẩm tín dụng dựa trên dòng tiền, tài chính chuỗi cung ứng, đồng thời mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm sang động sản, quyền sở hữu trí tuệ và tài sản hình thành trong tương lai. 

Theo bà Nguyễn Thị Bích Thủy, những thay đổi này không chỉ góp phần mở rộng dư địa tín dụng cho DNNVV mà còn tạo động lực để các tổ chức tín dụng xây dựng các mô hình đánh giá phù hợp hơn với đặc thù của doanh nghiệp nhỏ. Khi dòng vốn được phân bổ dựa trên hiệu quả hoạt động và khả năng tạo dòng tiền thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp, cơ hội tiếp cận vốn của khu vực DNNVV sẽ được cải thiện đáng kể, qua đó tạo thêm động lực cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân.

Hương Giang – Hứa Chung/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục