Nhân rộng lúa chất lượng cao, phát thải thấp

  • Bùi Giang/vnanet.vn

BNEWS Từ những mô hình ban đầu, Tây Ninh từng bước đưa quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp ra diện rộng, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 phát triển 114.000 ha với 47.250 hộ dân tham gia.

Việc cơ giới hóa thu hoạch góp phần thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất lúa ở Tây Ninh theo hướng hiện đại, bền vững. Ảnh: Bùi Giang - TTXVN

Toàn tỉnh đã triển khai 16 mô hình với diện tích 381 ha, đồng thời nhân rộng quy trình trên 69.390 ha, cho thấy Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” đang chuyển dần từ xây dựng mô hình sang tổ chức sản xuất trên quy mô lớn.

Kết quả bước đầu cho thấy việc giảm phát thải có thể gắn với giảm chi phí và nâng hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa. Tuy nhiên, để từ diện tích đã nhân rộng tiến tới mục tiêu 114.000 ha, Tây Ninh cần tiếp tục thay đổi tập quán canh tác, củng cố hợp tác xã, tăng cường liên kết doanh nghiệp và đầu tư đồng bộ hạ tầng phục vụ sản xuất. 

Theo bà Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh, các mô hình thực hiện Đề án đã góp phần giảm lượng giống gieo sạ xuống dưới 80 kg/ha; diện tích nhân rộng duy trì dưới 100 kg/ha; giảm từ 1-3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật trong mỗi vụ. Toàn bộ diện tích mô hình áp dụng phương pháp tưới ướt - khô xen kẽ, rút nước ít nhất hai lần trong vụ; tỷ lệ cơ giới hóa đồng bộ đạt trên 80%. Khoảng 26.000 hộ dân đã áp dụng quy trình canh tác bền vững. 

Hiệu quả sản xuất được thể hiện rõ tại Hợp tác xã Dịch vụ thương mại sản xuất nông nghiệp Hương Trang, xã Bình Hòa. Mô hình điểm được triển khai trên 50 ha với 19 hộ tham gia, áp dụng đồng bộ các quy trình canh tác tiên tiến, sử dụng giống lúa chất lượng và quản lý nước hợp lý. 

Ông Võ Văn Vân, thành viên hợp tác xã cho biết, vụ Đông Xuân vừa qua, gia đình đã giảm lượng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, qua đó giảm chi phí đầu vào nhưng cây lúa vẫn phát triển tốt, năng suất đạt trên 7 tấn/ha. Lợi nhuận thu được cũng cao hơn so với trước khi tham gia mô hình. 

Từ kết quả trên, hiệu quả kinh tế đang trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy người dân thay đổi phương thức sản xuất. Khi giảm lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đồng thời giúp giảm chi phí, nâng lợi nhuận, các yêu cầu về canh tác phát thải thấp trở nên cụ thể và dễ được nông dân tiếp nhận hơn.

Quá trình nhân rộng cũng đang được thể hiện tại các địa phương. Vụ Hè Thu 2026, xã Tân Hưng thực hiện 1.139/1.600 ha theo Đề án, đạt 71,2% kế hoạch và tiếp tục vận động nông dân tham gia để hoàn thành chỉ tiêu. 

Tại xã Tuyên Bình, quy mô khoảng 10.402 ha đất sản xuất nông nghiệp tạo điều kiện để địa phương quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, phát triển cánh đồng lớn gắn với chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ. Địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển 5.000 ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp; riêng năm 2026 phấn đấu thực hiện 1.000 ha. 

Theo ông Tạ Thành Đô, Phó Chủ tịch UBND xã Tuyên Bình, Đề án tạo nền tảng để địa phương tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo theo hướng chuyên nghiệp, giảm chi phí sản xuất, nâng cao giá trị hạt gạo và thích ứng với biến đổi khí hậu. Xã đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án, đồng thời tăng cường phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân. 

Trong chuỗi liên kết này, doanh nghiệp tham gia cung ứng giống lúa chất lượng cao, vật tư nông nghiệp và giải pháp cơ giới hóa; chuyển giao quy trình canh tác theo hướng giảm phát thải, tiết kiệm chi phí; đồng thời liên kết tiêu thụ, bao tiêu sản phẩm. 

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam cho biết, điểm đáng chú ý trong cách Tây Ninh triển khai Đề án là sự liên kết giữa doanh nghiệp đầu vào, doanh nghiệp đầu ra với hợp tác xã và nông dân, cùng tuân thủ quy trình sản xuất. Việc doanh nghiệp cam kết đầu tư thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong thời gian dài góp phần tạo thế chủ động cho doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân cùng phát triển các mô hình nông nghiệp xanh. 

Những kết quả bước đầu cho thấy Đề án tại Tây Ninh không còn dừng ở các mô hình trình diễn mà đang từng bước hình thành những vùng sản xuất có quy mô lớn hơn, gắn với quy trình canh tác và liên kết tiêu thụ. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh tiếp tục mở rộng diện tích trong những năm tới. 

Theo bà Đinh Thị Phương Khanh, Tây Ninh có nhiều thuận lợi khi triển khai Đề án nhờ nền tảng từ Dự án VnSAT giai đoạn 2016-2022, với khoảng 48.300 ha áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến như “1 phải, 5 giảm”, “3 giảm, 3 tăng”. Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp cũng giúp nông dân từng bước giảm lượng giống gieo sạ, tăng cơ giới hóa, giảm sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. 

Tuy nhiên, việc thay đổi tập quán sản xuất vẫn là một trong những điểm nghẽn khi nhân rộng Đề án. Lượng giống gieo sạ bình quân trên địa bàn đã giảm từ 180-200 kg/ha xuống còn khoảng 100-120 kg/ha, nhưng số hộ mạnh dạn giảm xuống mức 70-80 kg/ha theo hướng canh tác của Đề án vẫn còn ít. Theo bà Khanh, do điều kiện đất phèn và thời tiết diễn biến thất thường, nhiều nông dân vẫn lo ngại giảm lượng giống sẽ ảnh hưởng đến năng suất, nên chưa mạnh dạn thay đổi phương thức canh tác. 

Bên cạnh đó, liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp còn thấp; số doanh nghiệp tham gia đầu tư, bao tiêu sản phẩm chưa nhiều. Năng lực quản trị của một số hợp tác xã còn hạn chế, trong khi hạ tầng phục vụ sản xuất chưa đồng bộ. Việc thu gom, xử lý rơm rạ sau thu hoạch cũng gặp khó khăn do đầu ra cho sản phẩm từ rơm chưa ổn định, tập quán đốt rơm rạ vẫn còn ở một số nơi. 

Từ những điểm nghẽn này, Tây Ninh xác định việc nhân rộng Đề án phải gắn với tổ chức lại vùng sản xuất, thay vì mở rộng diện tích theo hướng dàn trải. Vùng tham gia phải được quy hoạch là đất chuyên trồng lúa, có diện tích liền mảnh tối thiểu 50 ha, hạ tầng thủy lợi cơ bản cùng hệ thống điện, viễn thông và hậu cần phục vụ sản xuất, chế biến, kinh doanh lúa gạo. 

Đồng thời, vùng sản xuất phải có nền tảng canh tác bền vững, với trên 20% diện tích đã áp dụng một trong các quy trình canh tác bền vững, trên 70% diện tích sử dụng giống lúa xác nhận hoặc tương đương; 100% hộ cam kết thu gom hoặc xử lý rơm rạ phù hợp với điều kiện mùa vụ. Diện tích liên kết phải đạt trên 30% tổng diện tích, trong đó ít nhất 50% số hộ tham gia liên kết thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp; có tổ chức khuyến nông hỗ trợ kỹ thuật và doanh nghiệp liên kết với tổ chức nông dân. 

Việc lựa chọn vùng theo các tiêu chí này nhằm bảo đảm những diện tích đưa vào Đề án có đủ điều kiện hình thành vùng sản xuất hàng hóa, đồng thời tạo cơ sở để doanh nghiệp tham gia sâu hơn từ cung ứng đầu vào, chuyển giao kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm. 

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Minh Lâm, thời gian tới tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện hiệu quả Đề án; trong đó chú trọng nâng cao nhận thức của người dân, phát huy vai trò của chính quyền cơ sở, hợp tác xã và doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ. 

Tỉnh sẽ duy trì và nhân rộng các mô hình hiệu quả; đẩy mạnh đào tạo, tập huấn kỹ thuật canh tác bền vững, xử lý rơm rạ, chuyển đổi số trong nông nghiệp; nâng cao năng lực cho đội ngũ khuyến nông cộng đồng và cán bộ hợp tác xã. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế hỗ trợ ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ giới hóa, phát triển giống chất lượng cao và xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ bền vững. 

Tây Ninh cũng khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo thông qua cung cấp vật tư đầu vào, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm; ưu tiên nguồn lực đầu tư, nâng cấp hệ thống thủy lợi và hạ tầng phục vụ sản xuất tại các vùng chuyên canh lúa trọng điểm. 

Mục tiêu đến năm 2030 phát triển 114.000 ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp với khoảng 47.250 hộ dân tham gia vì vậy không chỉ là bài toán mở rộng diện tích. Quan trọng hơn, Tây Ninh hướng tới hình thành những vùng sản xuất có quy mô, hạ tầng phù hợp, nông dân áp dụng quy trình canh tác bền vững, hợp tác xã đủ năng lực tổ chức sản xuất và doanh nghiệp tham gia liên kết từ đầu vào đến đầu ra.

Từ những mô hình bước đầu có hiệu quả đến diện tích nhân rộng 69.390 ha, Tây Ninh đang có nền tảng để tiếp tục mở rộng Đề án "Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030".

Nếu đồng thời giải quyết được các điểm nghẽn về tập quán sản xuất, liên kết, hạ tầng và xử lý rơm rạ, Đề án sẽ không chỉ góp phần giảm phát thải mà còn tạo chuyển biến căn bản về phương thức tổ chức sản xuất, nâng giá trị hạt gạo và thu nhập cho người trồng lúa, hướng tới ngành hàng lúa gạo xanh, hiệu quả và bền vững.

Bùi Giang/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục