BNEWS Trong các điều kiện hiện hành, vẫn còn những điều kiện kinh doanh không cần thiết, không hợp lý hoặc không có ý nghĩa về hiệu quả quản lý nhà nước.
Sáng 27/2, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức hội thảo “Chất lượng điều kiện kinh doanh: vấn đề và kiến nghị” nhằm cùng trao đổi thảo luận việc cắt giảm số lượng điều kiện kinh doanh trong thời gian qua.
Đồng thời, nhận diện cụ thể một số bất cập, hạn chế về ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và chất lượng điều kiện kinh doanh. Từ đó, có những đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của tiến trình cải cách.
Phát biểu khai mạc, TS. Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng CIEM nhận định, thời gian qua, cải cách quy định về điều kiện kinh doanh nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thân thiện với doanh nghiệp là mục tiêu ưu tiên của Chính phủ. Trong giai đoạn 2017-2019, các Bộ, ngành đã nỗ lực rà soát, đề xuất cắt bỏ, đơn giản hóa khoảng 50% số điều kiện kinh doanh để giảm gánh nặng quy định, thủ tục. Nhờ vậy, giảm thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo TS. Trần Thị Hồng Minh, trong các điều kiện hiện hành, vẫn còn những điều kiện kinh doanh không cần thiết, không hợp lý hoặc không có ý nghĩa về hiệu quả quản lý nhà nước. Trên thực tế, khi tổ chức thực hiện, một số nơi vẫn chưa nắm rõ những thay đổi, cải cách về điều kiện kinh doanh. Do đó, nâng cao chất lượng điều kiện kinh doanh vẫn là nội dung trọng tâm trong cải cách môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Trưởng ban Ban Nghiên cứu Môi trường Kinh doanh và Năng lực Cạnh tranh tại CIEM Nguyễn Minh Thảo cho biết, trong giai đoạn này, có tới gần 40 văn bản của Chính phủ chỉ đạo về nội dung cải cách, đặc biệt là trong năm 2018. “Có lẽ, khó có nội dung cải cách nào được Chính phủ quan tâm và chỉ đạo sát sao, liên tục như về điều kiện kinh doanh. Bởi vậy, xác định đúng ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và cải cách đầu tư kinh doanh là căn bản nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế tại Việt Nam”, bà Nguyễn Minh Thảo nhấn mạnh. Theo bà Nguyễn Minh Thảo, các điều kiện kinh doanh quy định chung chung, thiếu rõ ràng, can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc dễ tạo sự tùy ý trong thực thi đều đã được cắt bỏ. Bên cạnh đó, điều kiện kinh doanh trùng lặp cũng đã được cắt bỏ và chuyển sang quản lý theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) và Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN). Một số điều kiện kinh doanh cũng đã được sửa đổi theo hướng giảm bớt yêu cầu, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Đánh giá về mức độ cải cách các quy định về điều kiện kinh doanh trong thời gian qua, bà Nguyễn Minh Thảo nhận định, điều kiện kinh doanh được cắt bỏ chủ yếu dưới hình thức đơn giản hóa, ít cắt bỏ, giảm mức độ yêu cầu về số lượng nhân sự hoặc giảm yêu cầu về quy mô diện tích của cơ sở vật chất, thể hiện dưới hình thức sửa đổi. Hiện tại, vẫn còn một số điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý, không đạt hiệu quả quản lý, thiếu rõ ràng. “ Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả nhất định song những vướng mắc về rào cản về điều kiện kinh doanh vẫn còn phổ biến. Đặc biệt, cảm nhận của doanh nghiệp về hiệu quả cải cách điều kiện kinh doanh vẫn còn hạn chế”, bà Nguyễn Minh Thảo nhấn mạnh. Khái quát những tồn tại, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn cho rằng, tư duy cách thức quản lý chưa bảo đảm quyền tự do kinh doanh. Bởi đơn giản điều kiện kinh doanh là giới hạn quyền tự do kinh doanh hiến định. Có đôi khi, trong các tờ trình của các Bộ vẫn đặt là mục tiêu ban hành các điều kiện kinh doanh là để bảo đảm “quản lý nhà nước”. Điều này không đúng là vì quản lý nhà nước không phải là mục tiêu của chính sách. Các cơ quan quản lý nhà nước vẫn sử dụng các giải pháp hành chính để can thiệp vào thị trường. Rồi việc sửa đổi danh mục các ngành nghề kinh doanh có điều kiện vẫn không được các Bộ đồng thuận. Thậm chí, xu hướng hiện nay là cơ quan nhà nước muốn thêm các ngành nghề kinh doanh có điều kiện chứ không phải là bớt đi, ông Tuấn nhận định. Để cải cách điều kiện kinh doanh có hiệu quả, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng, các Bộ, ngành cần đánh giá hiệu quả cải cách trong từng lĩnh vực, ước tính lợi ích từ hoạt động cải cách trong thời gian qua; tiếp tục rà soát, đề xuất, bãi bỏ, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh; giám sát việc tổ chức, xử lý nghiêm những hành vi cố tình gây khó cho doanh nghiệp; đồng thời, thiết lập cơ chế đối thoại và phản hồi cho doanh nghiệp. Bà Nguyễn Minh Thảo cho rằng, thời gian tới, các Bộ, ban, ngành cần tạo đột phá mới về cải cách điều kiện kinh doanh bằng cách thay đổi cách thức quản lý nhà nước, chuyển sang hậu kiểm. Theo đó, doanh nghiệp được chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh khi đáp ứng được đầu đủ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh; chỉ cần thông báo mà không cần xin phép cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời, tự chịu trách nhiệm về việc đáp ứng các yêu cầu về điều kiện kinh doanh. “ Cơ quan nhà nước thực hiện kiểm tra hậu kiểm trên cơ sở nguyên tắc quản lý rủi ro dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.”, bà Thảo cho hay./.Tin liên quan
Đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp về kinh tế, thương mại, đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh để kích cầu công nghệ và nhu cầu đổi mới sáng tạo...
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamKỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI: Hợp nhất hai luật, tháo gỡ điểm nghẽn trong quản lý nguồn lực công
Sáng 19/8, thảo luận tại tổ về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), nhiều đại biểu Quốc hội tán thành với việc hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công.
-
Kinh tế Việt NamKỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI: Tối ưu hóa nguồn lực và trao quyền thực chất cho địa phương
Sáng 19/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ, Quốc hội, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia.
-
Kinh tế Việt NamKhơi thông hơn 1 triệu tỷ đồng đầu tư công cho tăng trưởng
Khi đầu tư công được tăng tốc, nguồn lực này có thể tạo thành lực kéo kép cho tổng cầu. Đồng thời cũng mở ra những dư địa để tạo thêm lực đẩy cho tăng trưởng năm 2026.
-
Kinh tế Việt NamTích hợp 4 Chương trình mục tiêu quốc gia: Tránh “nhập cơ học”, khơi thông nguồn lực
Các đại biểu Quốc hội thống nhất cao việc tích hợp 4 Chương trình mục tiêu quốc gia, song đề nghị làm rõ cơ chế điều tiết nguồn lực, thời hạn ban hành hướng dẫn và bảo đảm ưu tiên cho vùng khó khăn.
-
Kinh tế Việt NamKỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI: Bảo đảm sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản
Sáng 19/8, tiếp tục đợt 2 Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã nghe trình bày các tờ trình, báo cáo về định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản.
-
Kinh tế Việt NamQuốc hội: Giảm đầu mối, tăng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho phát triển
Sáng 19/8, tiếp tục đợt 2 Kỳ họp không thường lệ, Quốc hội khóa XVI đã nghe trình bày các tờ trình, báo cáo về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một Chương trình mục tiêu quốc gia.
-
Kinh tế Việt NamKhởi công Khu công nghiệp Tây Giang vốn gần 1.800 tỷ đồng
Khu công nghiệp Tây Giang rộng 300 ha, vốn đầu tư gần 1.800 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành quý IV/2029 và bắt đầu thu hút nhà đầu tư thứ cấp từ tháng 1/2027.
-
Kinh tế Việt NamƯu tiên nhà cho thuê, hạn chế phân lô bán nền
Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) ưu tiên phát triển nhà cho thuê, thành lập Quỹ nhà ở, tăng nguồn cung nhà ở xã hội và hạn chế tối đa phân lô bán nền tại đô thị.
-
Kinh tế Việt NamTriển khai Nghị quyết 70-NQ/TW - Bài 4: Giải pháp từ nguồn năng lượng mới
Với nhu cầu năng lượng cao để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc phát triển các nguồn năng lượng mới chính là một trong các giải pháp cốt lõi để giảm mạnh phát thải khí nhà kính.











