Tăng năng lực cho doanh nghiệp Việt trong kỷ nguyên mới

20:34' - 28/01/2026
BNEWS Để cải thiện năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp cần sự phối hợp nhuần nhuyễn của “ba nhà”: Nhà nước kiến tạo - nhà trường sáng tạo - doanh nghiệp năng động.

Đặt doanh nghiệp vào trung tâm của tiến trình đổi mới, đồng thời coi trọng vai trò của tri thức, khoa học công nghệ và thể chế phát triển là con đường khả thi để nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp.

 

Đây là nội dung được các chuyên gia thảo luận tại Hội thảo “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên mới” do Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HUBA) phối hợp Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh tổ chức chiều 28/01, tại TP. Hồ Chí Minh.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh thông tin, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa thành công tốt đẹp, xác định giai đoạn 2026 –2030 là thời kỳ bứt phá để đưa đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Trong kỷ nguyên ấy, doanh nghiệp được xác định là trung tâm, là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Khẳng định doanh nghiệp tư nhân là trung tâm của quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh nêu vấn đề, thực tiễn đang đặt ra một bài toán lớn: Làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam vươn lên dẫn dắt trong bối cảnh chuyển đổi kép – vừa chuyển đổi số, vừa chuyển đổi xanh?

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh, năng lực cạnh tranh không thể chỉ dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ, mà phải dựa vào năng suất, chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo. Để cải thiện năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp cần sự phối hợp nhuần nhuyễn của “ba nhà”: Nhà nước kiến tạo - nhà trường sáng tạo - doanh nghiệp năng động.

Cùng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho rằng, cần đặt doanh nghiệp vào trung tâm của tiến trình đổi mới, đồng thời coi trọng vai trò của tri thức, khoa học công nghệ và thể chế phát triển.

Năng lực cạnh tranh phải được tạo dựng trên nền tảng năng suất, chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà phải trở thành chủ thể trung tâm của đổi mới, chuyển đổi và hội nhập.

Đây cũng chính là định hướng xuyên suốt trong các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị thời gian qua, nhất là các Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước.

Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Minh Khương, Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore cho rằng, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp không chỉ được đo bằng chi phí thấp mà bằng một hệ thước đo toàn diện, gồm: năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực; hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm; chất lượng việc làm và thu nhập; quyền lực thị trường; khả năng mở rộng và chống chịu rủi ro; năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo; và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong đó, các trụ cột quan trọng là năng lực vận hành, năng lực chiến lược và lợi thế bổ trợ. Cụ thể, năng lực vận hành phản ánh khả năng thực thi của doanh nghiệp, bao gồm kiểm soát chi phí, chất lượng, giao hàng, linh hoạt sản xuất, năng lực số hóa - AI, tổ chức, nhân lực và đổi mới.

Năng lực chiến lược thể hiện qua định vị thị trường, chiến lược tạo giá trị, năng lực lãnh đạo - quản trị, thương hiệu, văn hóa doanh nghiệp và khả năng huy động cam kết dài hạn của đội ngũ. Trong khi đó, lợi thế bổ trợ đến từ cụm ngành, hệ sinh thái liên kết, môi trường kinh doanh quốc gia, hạ tầng, năng lượng, thể chế, cũng như mức độ hội nhập.

Trên cơ sở đó, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Minh Khương đề xuất mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, trong đó nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp được xác định là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, mà đóng vai trò kiến tạo môi trường, dẫn dắt, khuếch đại năng lực thông qua chính sách, hạ tầng và thể chế.

Năng lực vận hành doanh nghiệp cần được cải tạo thông qua thúc đẩy năng suất, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số – AI – xanh, với cơ chế hỗ trợ đo lường bằng kết quả đầu ra. Nhà nước và nhà khoa học hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược, nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị, cải thiện quản trị, lãnh đạo và văn hóa đổi mới.

 Phát triển lợi thế bổ trợ thông qua chính sách cụm ngành, đầu tư hạ tầng trọng điểm, cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh và sử dụng mua sắm công, tiêu chuẩn để tạo cầu nâng cấp.

Thực tế từ lĩnh vực nông nghiệp, bà Đặng Huỳnh Ức My, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Thành Thành Công (TTC AgriS) chia sẻ, xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp tuần hoàn công nghệ cao là hướng đi chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Trọng tâm là chuyển đổi từ tư duy sản xuất thuần túy sang kinh tế nông nghiệp thông minh, vận hành dựa trên dữ liệu, khoa học công nghệ và liên kết chuỗi giá trị.

Giải pháp cốt lõi được xác định là đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong nông nghiệp, gắn với xây dựng khung dữ liệu nông nghiệp thống nhất. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số cho phép theo dõi canh tác theo thời gian thực, dự báo rủi ro, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin, qua đó hỗ trợ quản trị sản xuất, tài chính và thực hiện các cam kết phát triển bền vững.

Theo bà Đặng Huỳnh Ức My, chuyển đổi mô hình phát triển từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang mô hình tích hợp sản xuất – thương mại – dịch vụ – tài chính trên quy mô chuỗi giá trị là yêu cầu tất yếu. Nông nghiệp cần được tổ chức lại theo hướng liên kết đa ngành, đa trung tâm, tăng cường hợp tác nghiên cứu – phát triển, kết nối tri thức quốc tế và thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm nông nghiệp xanh, có giá trị gia tăng cao.

Trên nền tảng đó, mô hình nông nghiệp thông minh được hình thành với sự kết nối giữa công nghệ sản xuất, công nghệ thực phẩm và tài chính chuỗi giá trị, tạo điều kiện tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư và phân bổ lợi ích hài hòa giữa các chủ thể. Chuỗi giá trị thương mại tuần hoàn được xem là giải pháp then chốt, hướng tới giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và gia tăng giá trị bền vững từ sản xuất đến tiêu dùng.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục