Thái Lan tập trung hỗ trợ các ngành dễ bị tổn thương sau khi Mỹ áp thuế mới

  • Phạm Hải/vnanet.vn

BNEWS Theo dữ liệu phân tích của Bộ Thương mại Thái Lan, 2.120 mặt hàng xuất khẩu của nước này đã được miễn thuế theo Mục 301, với tổng trị giá 56,201 tỷ USD, chiếm 61,58% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ.

Gạo Thái Lan. Ảnh minh họa: Ngọc Quang-TTXVN

Trước những lo ngại hàng hóa Thái Lan phải chịu mức thuế 12,5% theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Mỹ năm 1974 - cơ chế cho phép Mỹ áp dụng các biện pháp thương mại bổ sung, trong đó có áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu bị xác định là gây ảnh hưởng đến lợi ích thương mại của Mỹ, cộng với thuế suất tối huệ quốc (MFN), Bộ Thương mại Thái Lan cho rằng việc chỉ xem xét con số thuế suất chưa phản ánh đầy đủ tác động thực tế đối với cơ cấu xuất khẩu của nước này.

Theo dữ liệu phân tích của Bộ Thương mại Thái Lan, 2.120 mặt hàng xuất khẩu của nước này đã được miễn thuế theo Mục 301, với tổng trị giá 56,201 tỷ USD, chiếm 61,58% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ.

Tổng cục trưởng Cục Ngoại thương Thái Lan Arada Fuangthong cho biết kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan sang Mỹ đạt 91,255 tỷ USD. Phần hàng hóa chưa nằm trong danh mục miễn trừ có giá trị khoảng 35 tỷ USD, chiếm 38,39% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, trong nhóm này có gần 7 tỷ USD hàng hóa đã thuộc phạm vi điều chỉnh của Mục 232 và không bị áp thêm thuế theo Mục 301.

Sau khi loại trừ các mặt hàng được miễn thuế và các mặt hàng thuộc Mục 232, tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu của Thái Lan thực sự chưa được miễn trừ và phải chịu thuế theo Mục 301 chỉ còn khoảng 28% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ. Bộ Thương mại Thái Lan nhấn mạnh điều này cho thấy hàng hóa Thái Lan không đồng loạt mất sức cạnh tranh, mà cần được đánh giá theo từng mặt hàng, từng mã HS và từng đối thủ cạnh tranh cụ thể tại thị trường Mỹ.

Theo cơ quan này, tác động của chính sách thuế cần được xem xét theo ba nhóm chính gồm: nhóm hàng hóa đã được miễn thuế, nhóm chịu các biện pháp thuế khác của Mỹ và nhóm chưa được miễn trừ. Mỗi nhóm sẽ chịu mức độ tác động khác nhau.

Trong nhóm 28% hàng hóa chưa được miễn trừ có cả sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp. Đối với nhóm nông sản, thực phẩm, các mặt hàng chịu tác động gồm thức ăn cho chó mèo, gạo, cá ngừ, tôm, nước xốt và gia vị, vẫn phải chịu mức thuế 12,5% cộng với thuế MFN.

Cục Ngoại thương Thái Lan cho biết 10 mặt hàng nông sản lớn nhất trong nhóm này có tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 2,93 tỷ USD, tương đương 3,21% tổng kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan sang Mỹ. Điều này cho thấy mặc dù một số mặt hàng nông nghiệp và thực phẩm chịu áp lực trực tiếp, quy mô ảnh hưởng đối với tổng xuất khẩu vẫn ở mức hạn chế.

Đối với hàng công nghiệp, các mặt hàng xuất khẩu lớn như lốp xe ô tô, lốp xe tải, máy ảnh, điều hòa không khí, bánh xe và vành xe ô tô phần lớn đã thuộc phạm vi Mục 232. Trong khi đó, một số mặt hàng như trang sức bạc, trang sức kim loại và gạch men vẫn phải chịu mức thuế 12,5% cộng với thuế MFN.

Bộ Thương mại Thái Lan nhận định tác động thực tế không phân bổ đồng đều giữa các ngành mà phụ thuộc vào từng mã hàng, mức thuế cơ bản và các biện pháp thuế đã được áp dụng trước đó. Chỉ 48 mặt hàng chịu bất lợi cạnh tranh về thuế

Một vấn đề khác được Bộ Thương mại Thái Lan quan tâm là chênh lệch thuế suất giữa Thái Lan và một số đối thủ cạnh tranh. Trong khi một số nước được hưởng mức thuế 10%, Thái Lan phải chịu mức thuế 12,5% bên cạnh thuế MFN, cao hơn 2,5 điểm phần trăm.

Phân tích của Bộ Thương mại Thái Lan cho thấy chỉ có 48 mặt hàng của nước này cùng xuất khẩu sang Mỹ nhưng chưa được miễn trừ bổ sung như một số đối thủ. Tổng giá trị xuất khẩu của nhóm hàng này khoảng 290,29 triệu USD, chủ yếu gồm kim cương, đồ trang sức và hoa lan tươi.

Bà Arada Fuangthong cho biết khi xem xét 30 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan sang Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam là hai đối thủ cạnh tranh xuất hiện trong hầu hết các nhóm hàng. Trong khi đó, Indonesia, Malaysia và Campuchia chỉ cạnh tranh trực tiếp ở khoảng 3-4 mặt hàng.

Theo bà Arada, Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều biện pháp thuế của Mỹ và chịu mức thuế cao hơn Thái Lan. Việt Nam chịu mức thuế 12,5% trong vụ việc liên quan đến lao động cưỡng bức, tương đương Thái Lan.

Bà Arada nhấn mạnh việc đánh giá năng lực cạnh tranh không nên chỉ dựa trên việc Thái Lan có mức thuế thấp nhất hay không, mà cần xem xét mức thuế cuối cùng đối với từng mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh chính. Việc chấp nhận mọi điều kiện bổ sung chỉ để đạt mức thuế thấp nhất có thể có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp, nông dân và người dân trong nước.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Thương mại Thái Lan Suphajee Suthumpun cho biết mục tiêu của nước này là kiểm soát tổng gánh nặng thuế không vượt quá mức 19% đã thống nhất trước đó và không tạo ra khoảng cách quá lớn so với các đối thủ cạnh tranh chính.

Bộ Thương mại Thái Lan cho rằng trong hệ thống thuế nhiều tầng của Mỹ, mức thuế công bố chưa phản ánh đầy đủ chi phí cuối cùng mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Yếu tố quan trọng hơn là tỷ trọng hàng hóa thực sự chịu ảnh hưởng và khả năng cạnh tranh của từng mặt hàng trên thị trường Mỹ.

Phạm Hải/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục