1. >

Bắc Giang ưu tiên cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo

Facebook Share

BNEWS.VN Đến 30/6/2019, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đạt trên 4.361 tỷ đồng, tăng trên 1.635 tỷ đồng so với năm 2014, bình quân mỗi năm tăng trên 327 tỷ đồng.

Bắc Giang ưu tiên cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo

Đã có gần 178.200 lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách khác tại Bắc Giang được vay vốn tín dụng chính sách xã hội. Ảnh minh họa: BNEWS/TTXVN

UBND tỉnh Bắc Giang cho biết, thời gian tới tỉnh tiếp tục triển khai nghiêm túc, hiệu quả Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tín dụng chính sách xã hội” nhằm nâng cao chất lượng tín dụng chính sách, góp phần vào mục tiêu giảm nghèo bền vững, an sinh xã hội tại địa phương.

Theo đó, tỉnh phát huy có hiệu quả Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội các cấp trong thực hiện công tác tín dụng chính sách xã hội; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm trong lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, Bắc Giang tập trung huy động nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân; tranh thủ nguồn vốn cân đối từ Trung ương, ngân sách địa phương hàng năm UBND tỉnh, huyện chuyển nguồn vốn cho Ngân hàng Chính sách xã hội để đảm bảo nguốn vốn vay đến đúng đối tượng thụ hưởng, ưu tiên cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo…

Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương, đơn vị nhận ủy thác thực hiện tốt các chỉ tiêu tín dụng, huy động nguồn vốn, thu lãi, nợ quá hạn, nợ xấu, xử lý rủi ro nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trên địa bàn xã. Đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động tổ tiết kiệm và vay vốn tốt, khá trở lên; duy trì tốt việc thực hiện giao dịch xã tại điểm giao dịch hàng tháng.

Thời gian tới, Ngân hàng Chính sách xã hội Bắc Giang còn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nội bộ; phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác, các ban ngành... duy trì tốt công tác kiểm tra, giám sát kịp thời để tiếp tục củng cố hoạt động tín dụng chính sách trên địa bàn, chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế.

Cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh quan tâm huy động các nguồn lực cho tín dụng chính sách; thực hiện tốt công tác điều tra, xác nhận đối tượng được vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng tại cơ sở...

Đến 30/6/2019, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đạt trên 4.361 tỷ đồng, tăng trên 1.635 tỷ đồng so với năm 2014, bình quân mỗi năm tăng trên 327 tỷ đồng. Tổng dư nợ tín dụng chính sách xã hội của tỉnh Bắc Giang là trên 4.127 tỷ đồng, tăng trên 1.406 tỷ đồng so với 31/12/2014, với trên 115.700 khách hàng còn dư nợ.

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi tập trung một số chương trình như hộ nghèo 1.346 tỷ đồng (chiếm 33% tổng dư nợ), hộ cận nghèo 937 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 23%), cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường 535 tỷ đồng (chiếm 12,4%), cho vay hộ sản xuất kinh doanh 535 tỷ đồng (chiếm 11,6% dư nợ)....

Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư, đến nay đã có gần 178.200 lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh được vay vốn tín dụng chính sách xã hội để phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống, giúp trên 158.450 hộ vượt qua ngưỡng nghèo; trên 5.200 lao động được tạo việc làm; đầu tư xây dựng trên 50.000 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn (nhà vệ sinh, hầm biogas...); trợ giúp gần 1.600 hộ nghèo xây dựng nhà ở kiên cố, thoát khỏi cảnh nhà tạm bợ...

Nhờ thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, tạo việc làm, xây dựng nông thôn mới, ổn định chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Giang./.

>>>Hướng dẫn nâng mức cho vay đối với một số chương trình tín dụng chính sách

logo

BẢNG GIÁ VÀNG (BẢO TÍN MINH CHÂU)

VIDEO

Để cá tra Việt Nam phát triển bền vững, chinh phục các thị trường khó tính, rõ ràng không thể trông chờ từ một phía mà cần có nhiều giải pháp từ cơ quan chức năng, hiệp hội ngành nghề cũng như doanh nghiệp, người nuôi. Có như vậy, sản phẩm cá tra mới duy trì hình ảnh và vị thế của mình trên thị trường toàn cầu.

ncif