BNEWS Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mới cần chú ý tới những doanh nghiệp, cá nhân bị ảnh hưởng nặng nề do dịch COVID-19 từ giai đoạn phòng, chống dịch đến giai đoạn “bình thường mới”.
Dịch COVID-19 tạo ra nhiều thách thức cho công tác xây dựng chính sách của các quốc gia để phản ứng những vấn đề cấp bách chưa có tiền lệ. Với quy mô toàn cầu và diễn biến phức tạp của dịch bệnh, không chỉ riêng Việt Nam, Chính phủ của nhiều nước trên thế giới cũng gặp khó khăn trong xây dựng và triển khai các gói hỗ trợ.
Báo cáo “Đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19” do Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ thực hiện thông qua Dự án Hỗ trợ kỹ thuật thúc đẩy cải cách và nâng cao năng lực kết nối của doanh nghiệp nhỏ và vừa (LinkSME/USAID) cho thấy, theo khảo sát 355 doanh nghiệp trên cả nước, trong tổng số 33 chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được thực hiện từ năm 2020, các chính sách thuộc nhóm thuế, phí, lệ phí và nhóm việc làm - lao động, bảo hiểm có tỷ lệ doanh nghiệp đã tiếp cận và hưởng lợi cao.Tỷ lệ tiếp cận của hai nhóm chính sách này đều đạt hơn 50% tổng số doanh nghiệp được khảo sát. Tỷ lệ doanh nghiệp hưởng lợi từ chính sách (tiếp cận thành công) tính trên tổng số doanh nghiệp đã tiếp cận chính sách lần lượt là 72% và 76,3% đối với nhóm thuế, phí, lệ phí và nhóm việc làm - lao động, bảo hiểm.
Do phạm vi đối tượng hưởng lợi nhỏ, các nhóm chính sách hỗ trợ liên quan đến tài chính - tín dụng và thúc đẩy xuất khẩu - bảo vệ chuỗi cung ứng có tỷ lệ tiếp cận thấp, đều dưới 20% tổng số doanh nghiệp được khảo sát.Tuy nhiên, xét về tỷ lệ doanh nghiệp được hưởng lợi từ chính sách (tiếp cận thành công) so với tổng số doanh nghiệp đã tiếp cận chính sách thì nhóm chính sách thúc đẩy xuất khẩu - bảo vệ chuỗi cung ứng có tỷ lệ cao hơn so với nhóm chính sách về tài chính - tín dụng, thậm chí ngang bằng với hai nhóm hỗ trợ thuế, phí, lệ phí và nhóm việc làm - lao động, bảo hiểm.
Cụ thể, nhóm chính sách thúc đẩy xuất khẩu - bảo vệ chuỗi cung ứng có tỷ lệ doanh nghiệp hưởng lợi là 76,3%; trong khi với nhóm chính sách hỗ trợ liên quan đến tài chính - tín dụng là 44%.
Khảo sát doanh nghiệp cho thấy, mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận và hưởng lợi từ chính sách với mức độ hiệu quả của các chính sách trong hỗ trợ doanh nghiệp. Các chính sách có tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận và hưởng lợi thấp hơn (nhóm chính sách hỗ trợ về tài chính - tín dụng và nhóm chính sách hỗ trợ về thúc đẩy xuất khẩu - bảo vệ chuỗi cung ứng) lại được doanh nghiệp đánh giá là có hiệu quả tốt hơn, có ý nghĩa hỗ trợ tích cực hơn so với các chính sách có tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận và hưởng lợi cao. Theo nhóm nghiên cứu, trong thời gian tới, nếu ban hành thêm các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi, cần lựa chọn đối tượng áp dụng và nội dung hỗ trợ để đảm bảo đạt được mục tiêu chính sách.Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mới cần chú ý tới những doanh nghiệp, cá nhân bị ảnh hưởng nặng nề do dịch COVID-19 từ giai đoạn phòng, chống dịch đến giai đoạn “bình thường mới”, do những thay đổi về nhu cầu mua hàng, sử dụng dịch vụ và đầu tư trên thế giới. Những gói hỗ trợ về tài chính - tín dụng, thúc đẩy xuất khẩu - bảo vệ chuỗi cung ứng vẫn rất cần đối với các doanh nghiệp ảnh hưởng do dịch bệnh./.
Tin liên quan
Ngân hàng Nhà nước: Giảm lãi suất nhằm hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế
Việc tiếp tục điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành là giải pháp linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường hiện nay để thực hiện mục tiêu giảm lãi suất cho vay.
Tin cùng chuyên mục
-
Ý kiến và Bình luậnHạn hán nghiêm trọng có thể đẩy giá nguyên liệu tại Đức tăng
Tình trạng hạn hán và mực nước thấp trên các con sông lớn tại Đức, đặc biệt là sông Rhine, đang làm gia tăng nguy cơ gián đoạn vận tải hàng hóa...
-
Ý kiến và Bình luậnMua bán điện trực tiếp (DPPA): Giải pháp chuyển dịch xanh, nâng tầm cạnh tranh quốc gia
Không chỉ là "nam châm" hút dòng vốn ngoại, DPPA còn là chiếc phao cứu sinh cho các doanh nghiệp sản xuất nội địa.
-
Ý kiến và Bình luậnViệt Nam và Ấn Độ vươn lên trên bản đồ hàng không châu Á - Thái Bình Dương
Các dự án sân bay quy mô lớn đang được triển khai tại châu Á - Thái Bình Dương sẽ góp phần thúc đẩy lưu lượng hàng không, trong đó Việt Nam và Ấn Độ nổi lên là những thị trường có tiềm năng lớn.
-
Ý kiến và Bình luận
Khôi phục Quỹ tìm kiếm, thăm dò dầu khí giúp chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp
Chia sẻ với báo giới, Đại biểu quốc hội Bùi Thị Kim Tuyến (Đoàn Phú Thọ) cho rằng, khôi phục Quỹ rủi ro tìm kiếm, thăm dò dầu khí có thể tạo cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
-
Ý kiến và Bình luậnViệt Nam - trụ cột chiến lược trong 5 nền kinh tế xuất sắc ASEAN
5 nền kinh tế gồm Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam và Philippines đang định vị lại Đông Nam Á trên bản đồ vốn toàn cầu cũng như chu kỳ tăng trưởng tiếp theo của ASEAN.
-
Ý kiến và Bình luậnPhát triển bán dẫn: Kinh nghiệm từ Pháp và hướng đi cho Việt Nam
Pháp tập trung vào các mắt xích có lợi thế như chip tiết kiệm năng lượng, chiplet, đóng gói tiên tiến; đây là những hướng Việt Nam có thể nghiên cứu để nâng năng lực bán dẫn.
-
Ý kiến và Bình luậnBáo chí Australia đưa tin đậm nét về chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia từ ngày 9-12/8 đang thu hút sự quan tâm đặc biệt và nhận được những đánh giá rất tích cực từ các cơ quan truyền thông.
-
Ý kiến và Bình luậnChuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tạo động lực mới cho quan hệ Việt Nam – New Zealand
Đây là khẳng định của Giáo sư danh dự Roberto Rabel, Nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Victoria Wellington (New Zealand).
-
Ý kiến và Bình luậnĐịnh hướng phát triển nông nghiệp của Indonesia mở ra tiềm năng hợp tác với Việt Nam
Những định hướng phát triển nông nghiệp của Indonesia mở ra nhiều tiềm năng hợp tác với Việt Nam.










