Đồng bằng sông Cửu Long trước đòi hỏi thay đổi tư duy quản trị tài nguyên nước

22:00' - 22/03/2026
BNEWS Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và suy giảm phù sa đang đe dọa an ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long, đòi hỏi chuyển đổi tư duy quản trị bền vững.

Tại Hội thảo "An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu" tổ chức ở thành phố Cần Thơ ngày 22/3, các đại biểu tham dự đã nhận diện các thách thức trọng yếu đối với an ninh nguồn nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đề cập khu vực này phải thay đổi tư duy quản trị tài nguyên nước theo hướng hiệu quả và bền vững hơn thay vì chỉ tập trung vào sản lượng thuần túy. 

*Hệ lụy từ dòng sông thiếu phù sa và mặn xâm nhập 

Chia sẻ tại hội thảo, ông Lý Văn Bon (Bảy Bon), một hộ nuôi cá bè có thâm niên gần 30 năm tại cồn Sơn, thành phố Cần Thơ, đã đưa ra những nhận định bất ngờ về sự biến đổi của dòng sông Hậu. Theo ông Bon, môi trường sinh thái tại khu vực này đang thay đổi một cách cực đoan mà dấu hiệu dễ nhận thấy nhất chính là sự xuất hiện của các loài thủy sản nước mặn. Ngay tại các bè nuôi cá thát lát, cá hô – vốn là những đặc sản nước ngọt của vùng – ông Bảy Bon đã phát hiện có cá nâu, cá kèo và cá mao ếch. Đây là những loài cá chỉ xuất hiện ở vùng cửa sông hoặc vùng biển, nay đã ngược dòng vào sâu trong nội địa hàng trăm km, chứng minh nguồn nước đã thay đổi đến mức báo động. 

Ông Lý Văn Bon nhấn mạnh, sự thay đổi này không chỉ đơn thuần là hiện tượng sinh học mà còn khiến người nuôi cá phải tăng mạnh chi phí sản xuất. Số liệu thực tế từ hệ thống bè nuôi của gia đình ông cho thấy, nếu như trước đây giá thành nuôi cá chỉ khoảng 40.000 đồng/kg thì hiện nay đã tăng vọt lên mức 60.000 – 70.000 đồng/kg. Theo ông Bon, trước đây, phù sa về mang theo lượng lớn tôm cá nhỏ làm nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, giúp cá nuôi lớn nhanh và giảm chi phí thức ăn công nghiệp. Hiện nay, phù sa giảm mạnh, nguồn thức ăn tự nhiên cạn kiệt, người nuôi phải phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn mua ngoài với giá cao. 

Không dừng lại ở đó, xâm nhập mặn còn tàn phá hạ tầng sản xuất của nông dân một cách nhanh chóng. Ông Bon cho biết, trước đây các bè cá có thể sử dụng ổn định trong 5 năm mà không cần sửa chữa lớn, nhưng nay chỉ khoảng 3 năm là hệ thống bù loong, ốc vít bằng kim loại đã bị nước mặn ăn mòn, rơi rụng. Phần khung gỗ của bè cũng bị con hà, một loại động vật giáp xác nước mặn đeo bám làm rệu rã cấu trúc. Chi phí duy tu, sửa chữa bè cá hiện nay là một gánh nặng tài chính lớn bào mòn lợi nhuận của người nuôi cá. 

Với tổng lượng nước trung bình hằng năm khoảng 488 tỷ m3, nhưng có tới 97% là nước mặt phụ thuộc vào dòng chảy xuyên biên giới, khu vực này đang trở nên dễ bị tổn thương trước các hoạt động khai thác ở thượng nguồn và biến đổi khí hậu. Trong những năm gần đây, dòng chảy mùa khô từ thượng nguồn về hai trạm Tân Châu và Châu Đốc đã giảm trung bình 13%, đặc biệt giai đoạn 2015-2016 giảm sâu tới 36%, khiến xâm nhập mặn lấn sâu và sụt lún đất gia tăng nghiêm trọng. 

Theo ông Nguyễn Hoàng Anh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, dù nằm ở trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long, có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc và nguồn nước tương đối dồi dào, nhưng thành phố Cần Thơ đang chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như ngập úng do triều cường, hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô diễn ra ngày càng phổ biến. 

Tình trạng sạt lở bờ sông, sụt lún đất cũng gia tăng, trong bối cảnh nhu cầu khai thác và sử dụng nước ngày càng lớn. Những thách thức này đang tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội bền vững của thành phố và toàn vùng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải quản lý và sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả, tiết kiệm và bền vững. 

*Cần giải pháp chiến lược để bảo vệ sinh kế bền vững 

Tại Hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, cố vấn cao cấp Viện Dragon, Đại học Cần Thơ đã nhận diện 7 thách thức trọng yếu đối với an ninh nguồn nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 3 tác động ngoại biên và 4 vấn đề nội tại. Về ngoại biên, ông Tuấn chỉ rõ các nguy cơ: biến đổi khí hậu; hệ thống đập thủy điện thượng nguồn làm thay đổi quy luật thủy văn, suy giảm phù sa, nguồn lợi cá và rủi ro chuyển nước ra ngoài lưu vực sông Mê Kông vào mùa khô, ví dụ như dự án kênh đào Funan Techo.

Về nội tại, chuyên gia này cảnh báo tình trạng khai thác nước quá mức để đánh đổi sản lượng lương thực; chất lượng nước suy giảm do lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; cùng hiệu quả sử dụng nước ở mức rất thấp. Dẫn số liệu từ Ngân hàng Thế giới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho biết, 1m3 nước tại Việt Nam chỉ tạo ra giá trị 2,37 USD, thấp hơn nhiều so với mức trung bình thế giới là 19,42 USD. Cụ thể, để sản xuất một tấn lúa tiêu tốn từ 4.000 - 5.000 m3 nước ngọt. Ông Lê Anh Tuấn khẳng định, việc xuất khẩu gạo giá trị thấp thực chất là đang "xuất khẩu tài nguyên nước" ra nước ngoài, khiến người nông dân vẫn khó thoát nghèo. Những thách thức này đòi hỏi Đồng bằng sông Cửu Long phải thay đổi tư duy quản trị tài nguyên nước theo hướng hiệu quả và bền vững hơn thay vì chỉ tập trung vào sản lượng thuần túy. 

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Quỳnh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu các tác động ngoại biên nghiêm trọng và không thể đảo ngược. Lưu vực sông Mê Công có diện tích 795.000 km2, trong đó phần lưu vực tại Việt Nam chỉ chiếm 8% nhưng lại là nơi tiếp nhận toàn bộ hệ quả từ các quốc gia thượng nguồn. 

Số liệu phân tích cho thấy sự đóng góp dòng chảy của các quốc gia rất khác nhau: Trung Quốc đóng góp 16%, Lào 35%, Thái Lan và Campuchia mỗi nước 18%, trong khi Việt Nam chỉ đóng góp 11%. Sự phát triển của các hệ thống thủy điện và công trình điều tiết ở thượng lưu đã làm suy giảm lượng phù sa, bùn cát và thay đổi hoàn toàn quy luật dòng chảy tự nhiên. Điều này, kết hợp với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đang định hình lại một diện mạo mới cho đồng bằng với các đặc trưng bất lợi hơn rất nhiều so với trước đây. 

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Quỳnh nhấn mạnh, tác động do phát triển nội tại gây lún sụt đất, hạ thấp cao trình đồng bằng đang diễn ra ở mức độ rất nghiêm trọng, làm giảm khả năng chống chịu của vùng trước thiên tai. 

Phó Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Du lịch cồn Sơn Lý Văn Bon cho biết, để duy trì sinh kế, người dân tại cồn Sơn đang chủ động thích ứng bằng cách chuyển đổi sang nuôi các loài cá có biên độ thích nghi rộng, sống được trong cả môi trường nước lợ và nước ngọt. Trong trồng trọt, bà con phải canh lịch thủy triều, chỉ lấy nước tưới khi triều rút để tránh tình trạng xâm nhập mặn làm vàng lá, rụng trái hàng loạt.

Đáng chú ý, ông bày tỏ lo ngại về tình trạng ô nhiễm sông Hậu do dư lượng hóa chất từ các cánh đồng đổ trực tiếp ra dòng chảy. Để xử lý từ "gốc", ông Bon kiến nghị cần thay đổi lịch thời vụ, hạn chế canh tác lúa vào tháng 7, tháng 8 để chủ động mở cửa đón phù sa vào đồng ruộng. Giải pháp này không chỉ giúp bồi đắp dinh dưỡng tự nhiên, giảm chi phí phân bón cho vụ sau mà còn hạn chế tối đa việc thải thuốc bảo vệ thực vật ra môi trường. Cũng theo ông Bon, việc kiểm soát chặt chẽ nguồn thải từ ruộng đồng ra sông Hậu là yếu tố quan trọng để bảo vệ an ninh nguồn nước và sinh kế bền vững cho vùng hạ lưu.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục