Gặt trái ngọt từ những tán lá chúc xanh ngát vùng Bảy Núi

  • Thanh Sang/vnanet.vn

BNEWS Từ loài cây vốn chỉ được trồng để lấy trái, cây chúc ở khu vực miền núi An Giang nay được người dân khai thác thêm giá trị từ những tán lá xanh.

Lá chúc có mùi thơm đặc trưng, được sử dụng phổ biến trong chế biến các món ăn, góp phần tạo hương vị riêng cho ẩm thực vùng Bảy Núi (An Giang). Ảnh: Thanh Sang - TTXVN

Lá chúc được thị trường ưa chuộng, trở thành nguồn thu nhập thường xuyên, mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho nhiều hộ dân ở vùng Bảy Núi An Giang.

Cây chúc (còn gọi là chanh Thái) là loại cây thân gỗ nổi bật với lá kép, vỏ quả xù xì và mùi thơm nồng rất đặc trưng. Tại Việt Nam, cây chúc được trồng nhiều ở vùng đất Bảy Núi, An Giang. Cây chúc từ lâu gắn bó với đời sống của người dân vùng Bảy Núi, nhất là đồng bào Khmer. Trước đây, cây chủ yếu được trồng phân tán quanh nhà hoặc trên các triền núi để lấy quả làm gia vị. Lá, quả chúc được sử dụng trong chế biến món ăn, nấu nước gội đầu hoặc bán cho các quán ăn địa phương.

Khoảng 10 năm trở lại đây, khi nhu cầu của thị trường đối với lá chúc tăng mạnh, nhiều hộ dân ở khu vực Tà Lọt (xã Núi Cấm) đã mạnh dạn cải tạo vườn tạp, chuyển sang trồng chuyên canh chúc để thu hoạch lá. Lá chúc vùng Bảy Núi có mùi thơm đậm, hàm lượng tinh dầu cao hơn nhiều nơi khác nên được các cơ sở chế biến tinh dầu, thương lái và nhà hàng thu mua số lượng lớn.

Ông Nguyễn Văn Tâm (ấp Tà Lọt, xã Núi Cấm) cho biết, trước đây gia đình chủ yếu trồng chúc bán quả nên thu nhập không ổn định, phụ thuộc vào mùa vụ và giá cả thị trường. Từ khi chuyển sang khai thác bán lá, vườn chúc gần như cho nguồn thu nhập quanh năm. Cứ khoảng 30 - 45 ngày cây chúc cho thu hoạch lá một đợt, thương lái đến tận vườn thu mua nên người trồng không phải lo đầu ra.

Lá chúc có mùi thơm đặc trưng, được sử dụng phổ biến trong chế biến các món ăn, góp phần tạo hương vị riêng cho ẩm thực vùng Bảy Núi (An Giang). Ảnh: Thanh Sang - TTXVN

Từ hiệu quả bước đầu, đầu tháng 4/2026, Hội Nông dân xã Núi Cấm thành lập Tổ hội Nông dân nghề nghiệp trồng chanh chúc ấp Tà Lọt, quy tụ 17 thành viên với tổng diện tích chuyên canh 12,1 ha. Việc thành lập tổ hội nhằm tập hợp những hộ cùng ngành nghề, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc, áp dụng quy trình sản xuất an toàn và tăng khả năng liên kết trong tiêu thụ sản phẩm. Không chỉ giúp nông dân có thêm đầu ra ổn định, mô hình còn mở ra hướng khai thác hiệu quả giá trị của cây chúc, khi cả lá và trái đều trở thành nguồn thu nhập, góp phần nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích canh tác.

Khác với những cây chanh thông thường, giá trị của cây chúc ở vùng Bảy Núi không chỉ nằm ở những trái chanh nhỏ, mà còn đến từ những tán lá xanh ngát. Lá chúc có mùi thơm đặc trưng, được thị trường ưa chuộng, trở thành nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình khu vực miền núi An Giang. Tuy nhiên, để có những mẻ lá đạt chất lượng, người trồng phải nắm chắc kỹ thuật và đặc biệt là chọn đúng thời điểm thu hái.

Ông Huỳnh Văn Ái, Tổ trưởng Tổ hội Nông dân nghề nghiệp trồng chanh chúc ấp Tà Lọt, cho biết: Cây chúc trồng từ hạt thường mất khoảng 3 năm mới bắt đầu cho thu hoạch lá, trong khi cây được nhân giống bằng nhánh chiết có thể cho thu hoạch sớm hơn. Khi thu hoạch lá, phải chọn thời điểm lá đạt ba tầng; nếu hái lá quá sớm lá còn non, tinh dầu chưa nhiều, còn để quá già thì mùi thơm giảm, chất lượng không còn tốt.

Cây chúc (chanh Thái) có lá kép, quả xù xì, mùi thơm đặc trưng, được trồng phổ biến ở vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang. Ảnh: Thanh Sang - TTXVN

“Khi cây trưởng thành, người dân có thể thu hoạch lá định kỳ khoảng 1,5 tháng/lần. Bình quân mỗi hécta cho từ 600-700 kg lá tươi, những đợt thuận lợi có thể đạt gần 1 tấn. Hiện đầu ra sản phẩm hiện khá thuận lợi. Lá chúc tươi do người dân tự thu hái được bán với giá 80.000-85.000 đồng/kg; trường hợp thương lái đến tận vườn thu hoạch, giá khoảng 50.000-55.000 đồng/kg”, ông Ái chia sẻ.

Tại khu vực miền núi ấp Tà Lọt, xã Núi Cấm, gia đình ông Ái là một trong những hộ dân đầu tiên mạnh dạn chuyển đổi diện tích trồng xoài kém hiệu quả chuyển sang trồng chúc lấy lá. Trên 5 công đất, ông trồng khoảng 400 cây chúc lớn, nhỏ, gồm cả cây gieo hạt và cây nhân giống bằng nhánh chiết.

Những ngày đầu chuyển đổi, ông Ái cũng không khỏi lo lắng bởi mô hình trồng chúc lấy lá quy mô lớn chưa phổ biến. Tuy nhiên, sau vài vụ thu hoạch, khi thương lái liên tục tìm đến tận vườn thu mua, ông càng tin tưởng vào hướng đi mới.

“Bây giờ lá chúc hái đến đâu thương lái mua hết đến đó. Có thời điểm gia đình không đủ lá để cung cấp vì nhu cầu thị trường khá lớn. Mỗi đợt thu hoạch được khoảng 100-200 kg lá; có đợt cây phát triển tốt cho sản lượng lá gần 300 kg, bán được khoảng 18 triệu đồng”, ông Ái phấn khởi cho biết.

So với các loại cây trồng khác, chi phí chăm sóc cây chúc không quá lớn, chủ yếu tốn chi phí nhân công cắt tỉa cành, bón phân và tưới nước. Khi cây bước vào thời kỳ phát triển ổn định, việc thu hoạch lá diễn ra quanh năm, tạo nguồn thu thường xuyên thay vì phải chờ đến mùa thu hoạch quả như nhiều loại cây ăn trái khác.

Mô hình trồng chúc tại ấp Tà Lọt, xã Núi Cấm (An Giang) mang lại nguồn thu nhập ổn định, nâng cao đời sống cho nông dân vùng Bảy Núi. Ảnh: Thanh Sang - TTXVN

Theo nhiều hội dân trồng chúc lấy lá ấp Tà Lọt, so với với trồng xoài thì trồng chúc lấy lá hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều, có nguồn thu nhập quanh năm, kinh tế ổn định nên các gia đình yên tâm gắn bó với cây chúc. Không chỉ bán lá, những cây chúc trưởng thành còn được người dân tận dụng để chiết cành, cung cấp cây giống cho các thành viên trong tổ hội và bán ra thị trường. Giá mỗi cây giống dao động khoảng 25.000-50.000 đồng, tạo thêm nguồn thu cho người trồng.

Ông Lý Thanh Tùng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Núi Cấm, An Giang cho biết, cho rằng, khó khăn lớn nhất hiện nay là nhiều hộ dân trên địa bàn xã còn thiếu vốn để mở rộng diện tích và đầu tư hệ thống tưới. Trong khi đó, sản phẩm chủ yếu vẫn được tiêu thụ dưới dạng lá tươi, trái tươi chưa có nhiều cơ sở chế biến sâu nên giá trị gia tăng còn hạn chế.

Hiện Hội Nông dân xã Núi Cấm đang hỗ trợ các hộ nông dân trồng chúc tiếp cận các nguồn vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân, Ngân hàng Chính sách xã hội và các chương trình tín dụng phù hợp. Đồng thời, địa phương định hướng người dân sản xuất theo hướng an toàn, hỗ trợ xây dựng mã số vùng trồng. Địa phương sẽ đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu như: chiết xuất tinh dầu, sấy khô, đóng gói hút chân không để nâng cao giá trị sản phẩm.

Thanh Sang/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục