Hiệp định CPTPP mở rộng dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

  • Uyên Hương/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, CPTPP mở ra dư địa mới cho hàng Việt. Doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường, đáp ứng quy tắc xuất xứ và nâng cao năng lực để tận dụng hiệu quả ưu đãi.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, đa dạng hóa thị trường đang trở thành yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mở ra nhiều cơ hội tại các thị trường như Canada, Mexico, Peru song để tận dụng hiệu quả, doanh nghiệp cần đáp ứng tốt quy tắc xuất xứ và yêu cầu riêng của từng thị trường. Những cơ hội và giải pháp mở rộng xuất khẩu qua CPTPP là nội dung được trao đổi tại Tọa đàm “Từ biến động thương mại toàn cầu đến cơ hội thị trường: Tận dụng CPTPP để chuyển hướng và mở rộng xuất khẩu” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 28/9 tại Hà Nội.

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương)

Chia sẻ tại tọa đàm, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) nhấn mạnh: Thương mại toàn cầu đang được cấu trúc lại, tạo ra không ít khó khăn nhưng cũng mở ra cơ hội khi các đối tác có nhu cầu tìm kiếm nguồn cung và thị trường mới. Với vị thế là một trung tâm sản xuất trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam sẽ trở thành đối tác tiềm năng cho các doanh nghiệp có nhu cầu đa dạng hóa thị trường và nhà cung cấp.

Theo ông Ngô Chung Khanh, CPTPP không nên chỉ được nhìn nhận là một FTA của khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà đang ngày càng mở rộng phạm vi. Đặc biệt, CPTPP không chỉ là thị trường tiêu thụ mà còn là nguồn cung nguyên liệu, giúp doanh nghiệp đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

“Đừng nhìn CPTPP chỉ là thị trường của người mua, mà cần nhìn đây cũng là thị trường của người bán”, ông Ngô Chung Khanh nhấn mạnh và cho rằng đây là tư duy doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi để tận dụng tốt hơn các lợi thế của CPTPP.

Bà Nguyễn Thị Trang, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Mexico cho biết: Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, đa dạng hóa thị trường đang trở thành yêu cầu thực tế đối với cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Mexico. Đáng lưu ý, Mexico không chỉ là thị trường hơn 130 triệu dân mà còn là điểm kết nối giữa Bắc Mỹ và không gian thị trường Mỹ Latinh. Nhu cầu nhập khẩu của Mexico khá đa dạng, từ hàng tiêu dùng đến nguyên liệu, linh kiện, máy móc, thiết bị phục vụ các chuỗi sản xuất gắn với thị trường Bắc Mỹ. Đây là những dư địa mà doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác.

Năm 2025, thương mại Việt Nam - Mexico đạt 8,17 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 7 tỷ USD. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực gồm máy vi tính, điện tử và linh kiện; điện thoại; máy móc, thiết bị; giày dép, dệt may; phương tiện vận tải và phụ tùng. Bên cạnh đó, các nhà nhập khẩu Mexico cũng đang tìm kiếm nhiều sản phẩm khác như máy móc nông nghiệp, đồ gỗ, nguyên phụ liệu và hàng tiêu dùng.

Bà Nguyễn Thị Trang, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Mexico tham dự toạ đàm theo hình thức trực tuyến

Thực tế kết nối doanh nghiệp cho thấy cơ hội đang chuyển thành những giao dịch cụ thể. Trong số 8 doanh nghiệp Mexico được Thương vụ đưa sang Việt Nam tham dự Viet Nam International Sourcing đầu tháng 9, 4 doanh nghiệp đã đạt thỏa thuận thương mại với nhà cung ứng Việt Nam. Điều này cho thấy đa dạng hóa thị trường diễn ra từ cả hai phía: doanh nghiệp Việt Nam tìm thị trường mới, trong khi nhà nhập khẩu Mexico cũng tìm nguồn cung mới. Vì vậy, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ từng sản phẩm, nhu cầu, thuế, yêu cầu nhập khẩu và lựa chọn đúng đối tác. Khi xem xét đúng sản phẩm, gặp đúng đối tác thì cơ hội hoàn toàn có thể trở thành hợp đồng.

Theo bà Nguyễn Thị Trang, CPTPP mang lại cơ hội và lợi thế thuế quan đáng kể nhưng có thị trường và có ưu đãi thuế quan chưa đồng nghĩa với có đơn hàng. Tại Mexico, hàng Việt Nam hiện có lợi thế khi vừa được hưởng ưu đãi từ CPTPP, vừa có thêm lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh Mexico điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu đối với một số quốc gia châu Á chưa có FTA. Tuy nhiên, để tận dụng được lợi thế này, doanh nghiệp phải đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ, các quy định nhập khẩu và yêu cầu cụ thể của nhà nhập khẩu.

Thực tế làm việc với các đối tác Mexico cho thấy, ngoài giá cả họ đặc biệt quan tâm đến quy cách, chất lượng, chứng nhận, năng lực sản xuất, số lượng tối thiểu, thời gian giao hàng, khả năng duy trì nguồn cung và phản hồi khi phát sinh vấn đề. Bà Nguyễn Thị Trang dẫn chứng, trong đoàn 8 doanh nghiệp Mexico được Thương vụ kết nối với doanh nghiệp Việt Nam, có trường hợp doanh nghiệp Việt Nam không chuẩn bị được nhân sự giao tiếp bằng tiếng Anh khi đối tác đến thăm nhà máy, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi. Ngược lại, những doanh nghiệp chuẩn bị tốt và phản hồi, chăm sóc đối tác kịp thời đã đạt kết quả tích cực; 4/8 doanh nghiệp Mexico đã đạt thỏa thuận thương mại với doanh nghiệp Việt Nam.

Như vậy, cùng có CPTPP và cùng có nhu cầu thị trường, nhưng khả năng chuyển cơ hội thành đơn hàng vẫn phụ thuộc rất lớn vào năng lực của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ cần quan tâm CPTPP giúp giảm bao nhiêu thuế, mà quan trọng hơn là có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của nhà mua hàng và thị trường hay không.

Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam

Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho rằng: Doanh nghiệp điện tử khi mở rộng sang các thị trường CPTPP phải nghiên cứu kỹ yêu cầu của từng thị trường và khách hàng, từ tiêu chuẩn chất lượng, môi trường, truy xuất nguồn gốc đến chứng nhận kỹ thuật và khả năng giao hàng ổn định. Do đó, không thể áp dụng một mô hình duy nhất cho toàn bộ thị trường CPTPP. Quan trọng hơn, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy, chủ động tìm hiểu thị trường, khách hàng và xây dựng năng lực sản xuất phù hợp, thay vì chỉ chờ có đơn hàng mới bắt đầu.

Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, bà Hương chỉ ra ba điểm nghẽn lớn là thiếu thông tin, thiếu nguồn lực tiếp cận thị trường và thiếu mạng lưới đối tác tin cậy. Vai trò của Hiệp hội, cơ quan Thương vụ và các tổ chức hỗ trợ vì vậy rất quan trọng trong cung cấp thông tin, xác thực đối tác và kết nối B2B.

Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết phải xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh mà có thể tham gia chuỗi cung ứng với vai trò cung cấp linh kiện, vật liệu, mô-đun hoặc một công đoạn sản xuất. CPTPP vì thế không chỉ mở ra cơ hội xuất khẩu trực tiếp mà còn giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng trong khu vực.

Quang cảnh toạ đàm. Ảnh: Bộ Công Thương

Theo ông Ngô Chung Khanh, CPTPP còn dư địa rất lớn để doanh nghiệp Việt Nam khai thác. Năm 2025, tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước CPTPP, không tính Việt Nam, khoảng 4.250 tỷ USD, trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang khối này chỉ hơn 70 tỷ USD, tương đương hơn 1% thị phần. Tại những thị trường như Canada và Mexico, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam cũng mới khoảng 1%, cho thấy dư địa còn rộng. Tuy nhiên, không chỉ tính dư địa của cả thị trường mà cần xem xét cụ thể từng nhóm hàng, bởi mức độ thâm nhập của hàng Việt Nam ở mỗi ngành hàng rất khác nhau.

Vì vậy, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy, định vị lại thị trường và tận dụng tối đa lợi thế từ CPTPP, trong đó tuân thủ quy tắc xuất xứ là điều kiện tiên quyết để hưởng ưu đãi thuế quan. Đồng thời, doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao về lao động, môi trường và phát triển bền vững. Một yêu cầu quan trọng khác là tổ chức lại chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất, đồng thời chủ động xây dựng mạng lưới đối tác và tìm kiếm đơn hàng thông qua xúc tiến thương mại, hội chợ và kết nối B2B.

Ông Khanh cũng lưu ý, đa dạng hóa không có nghĩa là bỏ thị trường truyền thống. Doanh nghiệp cần một chiến lược cân bằng, có lộ trình phù hợp, không “bỏ trứng một giỏ” cả về thị trường lẫn nguồn cung ứng nguyên liệu. Đặc biệt, trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, CPTPP không chỉ giúp doanh nghiệp tìm thêm thị trường mà còn mở ra các phương án về bán hàng, mua hàng và tổ chức sản xuất. Vấn đề quan trọng hiện nay không phải thiếu FTA, mà là quản trị và khai thác hiệu quả các FTA đang có.

Việt Nam hiện có khoảng 20 FTA, bao phủ hơn 83% GDP toàn cầu với khoảng 60 đối tác. Vì vậy, trọng tâm là xây dựng hệ thống quản trị thực thi FTA, coi các FTA như một tài sản cần được khai thác hiệu quả. Hệ thống này được triển khai trên ba trụ cột: thông tin thị trường và cam kết FTA thông qua Cổng FTA của Chính phủ (FTAP); đánh giá kết quả thực thi tại địa phương để nâng cao hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp; và xây dựng hệ sinh thái tận dụng FTA, kết nối các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp, logistics, tài chính và các nguồn lực liên quan.

Qua hai năm đánh giá, nhiều địa phương đã chuyển từ kế hoạch chung chung sang các nhiệm vụ cụ thể theo tiêu chí “6 rõ”, xác định rõ nhiệm vụ, đơn vị phụ trách, thời gian và kết quả. Mục tiêu cuối cùng là vận hành hiệu quả hệ thống này để biến các cơ hội từ CPTPP và các FTA thành kết quả thực tế, nâng cao thị phần hàng Việt Nam trên các thị trường quốc tế.

Uyên Hương/Bnews/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục