Kết nối hạ tầng khí-điện-khu công nghiệp tạo không gian tăng trưởng mới

  • Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Việc kết nối hạ tầng khí tự nhiên và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) với các nhà máy điện khí và các khu công nghiệp sẽ giúp tối ưu chuỗi giá trị, tạo không gian tăng trưởng mới.

Một góc Nhà máy Đạm Phú Mỹ của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo-Phú Mỹ). Ảnh: Lê Minh/Bnews/vnanet.vn

Với vai trò đầu vào không chỉ của sản xuất điện sạch mà còn của nhiều ngành công nghiệp nền tảng, việc kết nối hạ tầng khí tự nhiên và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) với các nhà máy điện khí và các khu công nghiệp sẽ giúp tối ưu chuỗi giá trị, tạo không gian tăng trưởng mới.

Thực tế cho thấy, tại khu vực Đông Nam Bộ, Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS)-đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đang cấp khí tự nhiên khai thác trong nước cho nhà máy điện Nhơn Trạch 1&2 và cấp LNG cho nhà máy điện Nhơn Trạch 3&4 của Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power); cấp khí tự nhiên cho nhà máy Đạm Phú Mỹ của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo-Phú Mỹ).

Theo PV GAS, dự kiến cả năm 2026, sản lượng khí cấp cho nhà máy Đạm Phú Mỹ đạt 590 triệu m³ tiêu chuẩn, cơ bản được giữ vững cả về sản lượng lẫn giá cả trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, khả năng cấp khí cho sản xuất điện tại khu vực này đang vượt so với nhu cầu huy động. Năm 2026, ước khả năng cấp khí của PV GAS khoảng 6,4 tỷ m3 điều kiện tiêu chuẩn (khoảng 3,3 tỷ m3 khí nội địa và 3,1 tỷ m3 LNG). Trong khi đó, tiêu thụ khí nội địa chỉ gần 2,9 tỷ m3; còn tiêu thụ LNG cho điện cũng chỉ khoảng 900 triệu m3 theo kế hoạch của Bộ Công Thương năm 2026. Với mức tiêu thụ LNG như hiện nay, kho LNG 1 triệu tấn Thị Vải mới vận hành chưa tới 40% công suất. Dự báo năm 2027, sản lượng khí cấp của PV GAS cho sản xuất điện vẫn lớn hơn nhu cầu huy động khí thực tế.

Theo dự báo của tập đoàn nghiên cứu, phân tích dữ liệu và tư vấn toàn cầu Wood Mackenzie, nhu cầu về khí đốt của Việt Nam dự kiến tăng trung bình 12%/năm và có thể tăng gấp ba lần vào giữa những năm 2030 để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng kinh tế; trong đó, sản xuất điện sẽ tiếp tục dẫn đầu trong tiêu thụ khí, với dự báo khí và LNG sẽ đóng góp tới 14% tổng sản lượng điện vào năm 2030. Trong khi đó, thực tế cho thấy hệ thống hạ tầng khí của PV GAS vẫn chủ yếu tập trung tại phía Nam và phụ thuộc nhiều vào việc cấp khí cho sản xuất điện và phân đạm tại khu vực này.

Để tối ưu chuỗi giá trị, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, khí tự nhiên và LNG là nhiên liệu đầu vào cho sản xuất điện sạch, sản xuất phân đạm cũng như là nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp nền tảng khác. Trong khi đó, hạ tầng khí hiện nay mới chủ yếu phục vụ sản xuất điện và phân đạm, còn việc kết nối hạ tầng khí trực tiếp với các khu công nghiệp vẫn hạn chế. Vì vậy, việc kết nối hạ tầng khí tự nhiên và LNG với các khu công nghiệp, khu kinh tế là điều kiện then chốt để tối ưu chuỗi giá trị, tạo không gian tăng trưởng mới, từ đó thúc đẩy công nghiệp xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Một số chuyên gia cũng rằng việc phát triển đồng bộ hạ tầng khí - điện - khu công nghiệp nên triển khai theo các mô hình kết nối linh hoạt như đường ống trực tiếp, LNG vệ tinh và trung tâm năng lượng tích hợp; đồng thời đưa hạ tầng khí vào danh mục hạ tầng thiết yếu của khu công nghiệp, khu kinh tế, đi kèm các cơ chế hợp tác công tư PPP và hợp đồng mua khí dài hạn.

Về phía doanh nghiệp, để giải quyết “bài toán” tối ưu chuỗi giá trị, bên cạnh việc đánh giá chi tiết cân đối cung - cầu tại khu vực phía Nam, Chủ tịch PV GAS Bùi Minh Tiến thông tin, PV GAS đang tập trung đầu tư mở rộng hệ thống kho cảng LNG tại các khu vực chiến lược miền Bắc và Bắc Trung bộ như Dự án kho LNG Bắc Trung Bộ (Kho LNG Vũng Áng); Dự án Kho cảng PV GAS Hải Phòng… Tháng 7/2026 vừa qua, PV GAS, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh và Nebula Energy (Hoa Kỳ) ký thỏa thuận nghiên cứu đầu tư Trung tâm Dữ liệu tại Khu kinh tế Vũng Áng, khai thác nguồn nhiệt lạnh từ quá trình tái hóa LNG để phục vụ vận hành trung tâm dữ liệu, mở ra hướng kết nối hạ tầng năng lượng sạch với hạ tầng số và gia tăng giá trị cho chuỗi LNG. Cùng đó, PV GAS và MobiFone ký thỏa thuận hợp tác nghiên cứu phát triển trung tâm dữ liệu và hạ tầng số, hướng tới hình thành hệ sinh thái kết nối giữa năng lượng và dữ liệu. PV GAS và PV Power cũng đã ký Biên bản ghi nhớ về mua bán khí LNG tái hóa cho Dự án Nhà máy Điện LNG Vũng Áng III công suất 1.500 MW.

Một góc khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh). Ảnh: TTXVN

 

Tại cuộc họp ngày 14/10/2026 đánh giá tiềm năng tổng thể chuỗi giá trị khí - điện, LNG - điện tại khu vực phía Bắc, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường nhấn mạnh, Petrovietnam hội tụ đủ năng lực, kinh nghiệm và có điều kiện để triển khai đồng bộ chuỗi giá trị năng lượng với khả năng làm chủ và phối hợp hiệu quả cả ba khâu thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn. Từ năng lực phát triển nguồn khí nội địa, triển khai đầu tư hạ tầng LNG nhập khẩu đến kho cảng, đường ống, vận tải và nhà máy điện, Petrovietnam có điều kiện xây dựng phương án tổng thể, chủ động kết nối các mắt xích và tối ưu hiệu quả đầu tư.

Theo đó, việc kết nối hạ tầng khí miền Trung với miền Nam, thúc đẩy phát triển ra phía Bắc sẽ từng bước hình thành mạng lưới hạ tầng khí trên phạm vi toàn quốc. Khi được phát triển đồng bộ, mạng lưới sẽ nâng cao khả năng điều phối nguồn khí, tận dụng hạ tầng dùng chung, mở rộng thị trường tiêu thụ và củng cố lợi thế cạnh tranh dài hạn của Petrovietnam. Với định hướng liên kết chuỗi giá trị, tiềm năng khí tại miền Trung, miền Bắc cần được nghiên cứu đồng thời cùng các nguồn cung hiện có và phương án nhập khẩu LNG dài hạn, hướng tới đáp ứng nhu cầu của các nhà máy điện và khách hàng công nghiệp, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường nhấn mạnh.



Tin cùng chuyên mục