Khơi thông nguồn lực, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế quý IV

  • Thúy Hiền/Bnews/Vnanet

BNEWS Giải pháp quan trọng nhất là tháo gỡ điểm nghẽn để các nguồn lực hiện có tạo ra kết quả ngay trong quý IV/2026; đó là: đẩy nhanh thực hiện đầu tư, nhất là các dự án có thể tạo khối lượng trong quý IV

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê ( Bộ Tài chính) chia sẻ thông tin tại Họp báo. Ảnh: Thúy Hiền/Bnews/Vnanet

Quý IV/2026 là chặng nước rút, đồng thời là phép thử về khả năng chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng thực chất để hiện thực hóa mục tiêu GDP tăng từ 10% trở lên. Trong bối cảnh đầu tư công, sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng còn chịu nhiều sức ép, trọng tâm không chỉ là huy động nguồn lực mà phải tháo gỡ điểm nghẽn, nâng hiệu quả hấp thụ và chuyển nhanh vốn thành công trình, đơn hàng thành sản phẩm, sức mua thành giá trị tăng thêm. Đây sẽ là yếu tố quyết định sức bật của nền kinh tế trong những tháng cuối năm.

Để hiểu rõ hơn về những thách thức cũng như những giải pháp tăng trưởng kinh tế trong quý IV, Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) xung quanh nội dung này.

Phóng viên: Đầu tư công, công nghiệp - xuất khẩu và tiêu dùng đang tạo “kiềng ba chân” cho tăng trưởng. Theo bà, đâu là động lực có dư địa lớn nhất trong quý IV và cần làm gì để các động lực mới chuyển sang dẫn dắt tăng trưởng?

Trưởng ban Nguyễn Thị Mai Hạnh: Kinh tế Việt Nam quý III/2026 đã ghi nhận kết quả tăng trưởng tích cực với tốc độ tăng GDP ước đạt 9,95%, cao hơn 1,82 điểm phần trăm so với mức tăng 8,13% cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng, GDP ước tăng 9,01%, cao hơn 1,20 điểm phần trăm so với mức tăng 7,8% cùng kỳ năm 2025. Đà tăng trưởng tiếp tục được củng cố, với công nghiệp và xây dựng tăng cao, dịch vụ mở rộng và nông, lâm nghiệp, thủy sản duy trì ổn định.

Có thể thấy, tăng trưởng kinh tế quý III và 9 tháng được nâng đỡ bởi ba động lực liên kết với nhau: đầu tư công tạo nền tảng gia tăng khối lượng sản xuất; công nghiệp chế biến chế tạo và xuất khẩu đóng vao trò mở rộng đầu ra quy mô lớn; tiêu dùng trong nước duy trì nhịp tăng trưởng ổn định của khu vực thương mại, dịch vụ.

Cụ thể, đầu tư công trở thành động lực chính mang tính dẫn dắt trong quý III với tiến độ giải ngân được cải thiện so với cùng kỳ, đặc biệt ở các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính lan tỏa cao. Việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công trong quý III không chỉ trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng ngành xây dựng và các ngành liên quan, mà còn tạo hiệu ứng “kéo” đối với đầu tư của khu vực tư nhân, qua đó cải thiện năng lực sản xuất và kết nối hạ tầng trong trung và dài hạn.

Cùng với đó, sản xuất và xuất khẩu tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, phản ánh sức chống chịu và năng lực thích ứng của nền kinh tế trong bối cảnh cầu thế giới phục hồi chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà tăng trưởng tích cực từ quý I, cho thấy sự phục hồi của hoạt động sản xuất và năng lực cung ứng trong nước. Hoạt động xuất khẩu tiếp tục diễn ra sôi động, tạo điểm tựa vững chắc cho sản xuất trong nước.

Tiếp đến, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình có xu hướng cải thiện, đóng vai trò ổn định tổng cầu, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài.

Bên cạnh các động lực truyền thống, các động lực tăng trưởng mới như: khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, từng bước thâm nhập vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao. Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện nay, các động lực này chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ, chưa thực sự trở thành lực kéo chính cho tăng trưởng. Việc chuyển hóa các yếu tố này thành động lực dẫn dắt đòi hỏi thời gian, cùng với những cải cách đồng bộ về thể chế, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Hoạt động sản xuất tại Khu công nghiệp Nhân Cơ (xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng). Ảnh: Nguyễn Huy Thành – TTXVN

 

Phóng viên: Thưa bà, tăng trưởng GRDP 9 tháng của phần lớn các địa phương cao hơn những quý trước, cho thấy đà phục hồi kinh tế đang được củng cố. Xin bà phân tích những động lực chính đứng sau sự bứt phá này?

Trưởng ban Nguyễn Thị Mai Hạnh: Bức tranh tổng thể về kết quả tăng trưởng GRDP quý III và 9 tháng năm 2026 của 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy đà phục hồi rõ nét. Phần lớn các địa phương đều đạt tốc độ tăng trưởng quý III cao hơn so với các quý trước, tạo đà tích cực cho kết quả chung của 9 tháng.

Theo đó, động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ trong đó các ngành như công nghiệp chế biến - chế tạo, bán buôn bán lẻ, vận tải kho bãi ghi nhận mức tăng cao tại các tỉnh, thành trọng điểm công nghiệp và dịch vụ. Khu vực nông lâm thủy sản giữ mức tăng trưởng ổn định (thường dao động từ 2 - 5% tùy địa phương), đóng vai trò bệ đỡ duy trì sự ổn định cho nền kinh tế.

Nổi bật, các đầu tàu kinh tế và thành phố trực thuộc Trung ương đều duy trì mức tăng trưởng ấn tượng; trong đó, quý III có sự bứt phá mạnh mẽ: Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ tăng GRDP ước tính quý III đạt 9,86%, giúp 9 tháng đạt 9,06%, cao hơn mức trung bình 6 tháng đầu năm (8,64%). Động lực chủ yếu đến từ khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Bên cạnh đó, thành phố Hà Nội có tốc độ tăng trưởng GRDP quý III tăng 10,02%, kéo theo 9 tháng năm 2026 ước đạt 8,85%, cải thiện rõ rệt so với 6 tháng đầu năm (8,23%); trong đó, khu vực dịch vụ tăng 10,33% và 9,14%, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch, tài chính, kinh tế số, giáo dục, y tế và logistics tiếp tục phát triển.

Cùng với đó, nhiều tỉnh, thành phố thuộc vùng du lịch, công nghiệp và trung du miền núi phía Bắc ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP rất cao trong 9 tháng. Theo đó, có 12/34 địa phương đạt tốc độ tăng trưởng từ 10,01% đến 12,54% gồm: Quảng Ninh (12,54%), Hà Tĩnh (12,36%), Hải Phòng (12,08%), Bắc Ninh (11,81%), Ninh Bình (11,31%), Thái Nguyên (11,24%), Hưng Yên (11,22%), Khánh Hòa (11,21%), Đà Nẵng (10,31%), Tây Ninh (10,3%), Phú Thọ (10,01%) và Đồng Nai (10,01%).

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những địa phương có tốc độ tăng trưởng GRDP chưa đạt kỳ vọng, gồm Cần Thơ, Lạng Sơn, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Sơn La. Những tỉnh này chủ yếu do cơ cấu kinh tế của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu và chi phí vận tải; đồng thời, quy mô thị trường và hoạt động dịch vụ, tiêu dùng còn hạn chế. Khu vực công nghiệp chưa có nhiều dự án đầu tư quy mô lớn để tạo động lực tăng trưởng.

Phóng viên: Quốc hội đặt mục tiêu GDP năm 2026 phấn đấu tăng từ 10% trở lên. Do đó, trong quý IV, nền kinh tế cần đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 12,5% để hoàn thành mục tiêu đề ra. Theo bà, đâu là những thách thức lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế trong những tháng cuối năm?

Trưởng ban Nguyễn Thị Mai Hạnh: Quốc hội đặt mục tiêu GDP năm 2026 phấn đấu tăng từ 10% trở lên. Trên cơ sở kết quả 9 tháng tăng 9,01%, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, GDP quý IV cần tăng khoảng 12,5% (cao hơn khoảng 4,1 điểm % so với quý IV/2025). Đây được xem là mục tiêu khó khăn và rất áp lực.

Một số áp lực lớn về phát triển kinh tế trong 3 tháng cuối năm được nhìn nhận như sau: Áp lực về điều hành kinh tế vĩ mô, biến động tỷ giá, giá năng lượng và nguyên liệu có thể làm tăng chi phí nhập khẩu, tạo sức ép lên giá trong nước. Điều hành quý IV cần bảo đảm vốn cho sản xuất, kinh doanh nhưng vẫn kiểm soát lạm phát và giữ ổn định các cân đối lớn.

Bên cạnh đó, đầu tư công tiếp tục đối mặt với áp lực lớn về tiến độ thực hiện và hiệu quả chuyển hóa thành tăng trưởng kinh tế. Những tháng cuối năm thường có xu hướng tăng tốc giải ngân, song chỉ tác động trực tiếp tới GDP quý IV khi vốn đầu tư được hiện thực hóa nhanh chóng thành khối lượng xây dựng và năng lực sản xuất thực tế.

Trong trường hợp các vướng mắc về mặt bằng, thủ tục điều chỉnh dự án, khan hiếm nguồn vật liệu hay năng lực nhà thầu không được tháo gỡ kịp thời có thể khiến dòng vốn bố trí chưa  kịp chuyển hóa thành sản lượng của ngành xây dựng và các ngành cung ứng liên quan, như vậy làm chậm nhịp độ đóng góp vào tăng trưởng GDP quý IV.

Hoạt động sản xuất tại nhà máy HS Hyosung Quảng Nam (doanh nghiệp 100% vốn Hàn Quốc tại khu công nghiệp Tam Thăng, thành phố Đà Nẵng). Ảnh: Quốc Dũng – TTXVN 

 

Cùng với đó, biến động từ bên ngoài đặt áp lực lên công nghiệp và xuất khẩu. Với độ mở lớn của nền kinh tế, thay đổi về nhu cầu, chính sách thương mại và chuỗi cung ứng tại các thị trường lớn có thể tác động nhanh tới đơn hàng của ngành chế biến, chế tạo. Giá năng lượng và nguyên liệu biến động còn làm tăng chi phí sản xuất, vận tải. Vì vậy, thách thức của quý IV không chỉ là duy trì kim ngạch xuất khẩu, mà còn là giữ nhịp sản xuất và nâng phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước.

Khu vực doanh nghiệp cũng tiếp tục chịu nhiều áp lực. Khu vực doanh nghiệp phải đồng thời ứng phó với chi phí và thị trường đầu ra. Đơn hàng, dòng tiền và chi phí logistics ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì công suất, nhất là ở doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, việc vốn tín dụng có sẵn chưa đủ để thúc đẩy tăng trưởng nếu doanh nghiệp thiếu đơn hàng hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.

Phóng viên: Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026, trong bối cảnh quý IV chỉ còn ba tháng, theo bà, cần tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào?

Trưởng ban Nguyễn Thị Mai Hạnh: Tôi cho rằng, giải pháp quan trọng nhất là tháo gỡ điểm nghẽn để các nguồn lực hiện có tạo ra kết quả ngay trong quý IV/2026; đó là: đẩy nhanh thực hiện đầu tư, nhất là các dự án có thể tạo khối lượng trong quý IV. Rà soát tiến độ từng dự án; giải quyết kịp thời vướng mắc về mặt bằng, thủ tục điều chỉnh, nguồn vật liệu và năng lực thi công. Trọng tâm là khối lượng xây dựng, lắp đặt thực hiện trong kỳ, đồng thời đẩy nhanh việc đưa công trình đã hoàn thành vào sử dụng.

Bên cạnh đó, giữ nhịp sản xuất công nghiệp, đặc biệt là chế biến, chế tạo. Theo dõi đơn hàng, tồn kho và khả năng cung ứng nguyên liệu của các ngành xuất khẩu chủ lực để xử lý sớm khó khăn phát sinh. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, giảm ách tắc trong vận chuyển và thông quan; tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đơn hàng duy trì công suất, hoàn thành sản phẩm và giao hàng đúng tiến độ.

Cùng với đó, khai thác nhu cầu tiêu dùng và dịch vụ cuối năm. Bảo đảm nguồn cung, lưu thông hàng hóa; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch phù hợp với nhu cầu thị trường; nâng chất lượng dịch vụ vận tải, lưu trú và các dịch vụ phục vụ khách. Hiệu quả cần được nhìn ở lượng hàng hóa tiêu thụ, lượt khách và khối lượng dịch vụ thực hiện, cùng với giá trị tăng thêm tạo ra, không chỉ ở doanh thu tăng do giá.

Mặt khác, tiếp tục thực hiện các giải pháp giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Theo dõi sát giá năng lượng, nguyên liệu, tỷ giá và mặt bằng giá để điều hành linh hoạt, tránh để chi phí tăng làm suy giảm sức mua và khả năng duy trì sản xuất.

Như vậy, trọng tâm của quý IV là tăng tốc thực hiện: vốn đầu tư thành khối lượng công trình; đơn hàng thành sản phẩm được sản xuất, tiêu thụ; nhu cầu cuối năm thành khối lượng dịch vụ thực tế. Khả năng chuyển hóa đó sẽ quyết định mức đóng góp của ba tháng cuối năm vào tăng trưởng GDP năm 2026.

Phóng viên: Xin trân trọng cám ơn bà!

Thúy Hiền/Bnews/Vnanet

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục