Nghị quyết về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm
QUỐC HỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Nghị quyết số: 43/2017/QH14 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NGHỊ QUYẾT
Về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016 - 2020
QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 87/2015/QH13;
Căn cứ Nghị quyết số 14/2016/QH14 ngày 27 tháng 7 năm 2016 của Quốc hội về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2017 và Nghị quyết số 19/2016/QH14 ngày 26/7/2016 của Quốc hội về thành lập Đoàn giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016;
Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 04/BC-ĐGS ngày 18 tháng 5 năm 2017 của Đoàn giám sát của Quốc hội về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016 và ý kiến của đại biểu Quốc hội;
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1.
Tán thành với nội dung Báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát về “Việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016”. Trong thời gian qua, hệ thống văn bản pháp luật về an toàn thực phẩm được ban hành tương đối đầy đủ, toàn diện; công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp đã được tăng cường; hệ thống tổ chức quản lý, điều kiện làm việc của các cơ quan quản lý về an toàn thực phẩm từng bước được kiện toàn và tăng cường từ trung ương đến địa phương; quản lý sản xuất, kinh doanh thực phẩm có chuyển biến tích cực so với giai đoạn trước, hình thành một số vùng sản xuất kinh doanh rau, quả tươi sống, chăn nuôi an toàn, giết mổ tập trung bảo đảm an toàn thực phẩm; số lượng cơ sở đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn tăng đáng kể; một số doanh nghiệp lớn đã đầu tư vào sản xuất, kinh doanh thực phẩm với công nghệ cao theo chuỗi khép kín; việc kiểm soát các nguy cơ mất an toàn thực phẩm có tiến bộ; xuất khẩu nông sản, thực phẩm đã tăng nhanh về kim ngạch và có mặt ở nhiều thị trường uy tín trên thế giới; công tác thông tin, truyền thông, giáo dục phổ biến pháp luật về an toàn thực phẩm được đẩy mạnh; việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm được triển khai tương đối đồng bộ, quyết liệt và nghiêm minh hơn.
Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm chưa được hệ thống hóa, một số quy định còn chưa rõ ràng, còn thiếu cụ thể về phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành và địa phương; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn thiếu; công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện và cơ chế phối hợp của các cấp, các ngành chưa theo kịp tình hình thực tế, hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước chưa cao; đầu tư nguồn lực, điều kiện làm việc chưa đáp ứng yêu cầu; chưa kiểm soát được theo chuỗi cung cấp thực phẩm; việc phân tích, đánh giá nguy cơ ô nhiễm thực phẩm, quản lý sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thủ công, thực phẩm tươi sống vẫn là khâu yếu, chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu.
Tại một số địa phương, tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm còn khá phổ biến; sử dụng chất cấm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm vẫn diễn ra ở nhiều nơi; một lượng lớn thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không bảo đảm an toàn vẫn lưu thông trên thị trường; thực phẩm nhập lậu vẫn diễn ra; điều kiện chăn nuôi, hạ tầng chợ, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, cơ sở giết mổ còn nhiều yếu kém; sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ không kiểm soát được an toàn vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn; công nghệ chế biến lạc hậu; việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm còn nhiều khó khăn; thu hồi, xử lý thực phẩm không an toàn thực hiện chưa nghiêm; tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm diễn ra khá nghiêm trọng; yếu tố môi trường tự nhiên, môi trường sản xuất, kinh doanh thực phẩm chưa được quan tâm đúng mức.
Việc quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn chưa gắn với thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, xuất xứ của sản phẩm.
Việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại về an toàn thực phẩm còn thụ động, xử lý vi phạm chưa kiên quyết, còn có biểu hiện nể nang, né tránh; chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật chưa bảo đảm tính răn đe. Công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục về an toàn thực phẩm còn hạn chế. Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn chưa được chú trọng đúng mức.
Nguyên nhân các hạn chế, yếu kém do yếu tố chủ quan là chủ yếu, trước hết là do sự buông lỏng quản lý của chính quyền các cấp, sự nhận thức yếu kém và cố tình vi phạm của một số tổ chức, cá nhân sản xuất và kinh doanh nông sản, thực phẩm.
Trách nhiệm chính thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, nhất là ở cấp chính quyền địa phương, các doanh nghiệp, người sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm có vi phạm và một phần trách nhiệm thuộc về người tiêu dùng.
Điều 2.
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm, trong giai đoạn 2016 - 2020, giao Chính phủ tập trung thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp sau:
1. Khẩn trương rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm để sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan theo hướng quy định rõ các điều cấm và tăng chế tài xử lý; khắc phục tình trạng chồng chéo, không rõ trách nhiệm trong phân công quản lý an toàn thực phẩm; tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành các quy chuẩn kỹ thuật chính về an toàn thực phẩm cho các nhóm đối tượng và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
2. Đến hết năm 2018, kiện toàn cơ bản bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm các cấp theo hướng tập trung đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả. Ở cấp xã, phân công cán bộ theo dõi an toàn thực phẩm. Tăng cường năng lực, điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ quản lý an toàn thực phẩm ở các cấp, tạo sự chuyển biến rõ rệt về an toàn thực phẩm.
3. Phấn đấu giảm mạnh số vụ ngộ độc thực phẩm nhiều người, giảm tỷ lệ mẫu thực phẩm kiểm tra không đảm bảo an toàn, tăng tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm so với giai đoạn trước. Có lộ trình và giải pháp giải quyết dứt điểm các vấn đề yếu kém: về dư lượng vượt ngưỡng cho phép của thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, kinh doanh thực phẩm; kiểm soát giết mổ nhỏ lẻ, thực phẩm có nguy cơ cao, thức ăn đường phố; ngộ độc thực phẩm cấp tính và mãn tính; kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, hàng nhập lậu và gian lận thương mại; kiểm soát môi trường đất, nước cho sản xuất thực phẩm an toàn.
4. Hoàn thiện chính sách về đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm đồng bộ với quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất an toàn; có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo chuỗi khép kín, áp dụng chương trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, hệ thống kiểm soát chất lượng tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ, bảo đảm an toàn thực phẩm, có lộ trình giảm tỷ trọng sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, kém chất lượng.
5. Đẩy mạnh quản lý an toàn thực phẩm sang kiểm soát theo quá trình sản xuất, dựa trên phân tích nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm; tăng cường hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm; chỉ đạo các địa phương phát triển, nhân rộng chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn và kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ; tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống giám sát, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; tăng các biện pháp, chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng; tiếp tục thực hiện thí điểm thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm, đánh giá tổng kết và mở rộng mô hình khi có kết quả tích cực.
6. Bố trí đủ ngân sách cho công tác quản lý an toàn thực phẩm theo dự toán. Cho phép sử dụng kinh phí xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm để phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, trong đó được trích một tỷ lệ hợp lý khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích trong quản lý, tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm. Tăng cường xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính và một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm; thực hiện tốt việc tổ chức đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa quản lý an toàn thực phẩm và chỉ định các cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm tham gia kiểm định, giám định chất lượng thực phẩm. Phối hợp tích cực với hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, đặc biệt là của người dân trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm.
7. Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm; biểu dương kịp thời những điển hình tiên tiến, công khai những tồn tại yếu kém, những hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm của tổ chức và cá nhân; tránh đưa thông tin không đúng sự thật gây hoang mang trong dư luận ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển các kỹ năng truyền thông; nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm. Thiết lập hệ thống thông tin hỏi đáp phục vụ người dân, cung cấp thông tin, phản ánh về an toàn thực phẩm; tiếp nhận và xử lý kịp thời các thông tin vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.
8. Chú trọng công tác đào tạo, tăng cường tập huấn chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức đào tạo lại cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm tại các tuyến; từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tích cực vận động sự hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế cho công tác an toàn thực phẩm.
Điều 3.
1. Hằng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của năm trước vào kỳ họp đầu năm sau.
2. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết này.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2017.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(Đã ký) Nguyễn Thị Kim NgânTin liên quan
-
Kinh tế Việt Nam
Thông qua dự thảo Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2018
12:27' - 12/06/2017
Với 88,80% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2018.
-
Kinh tế Việt Nam
Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế
15:31' - 06/06/2017
Toàn văn Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
-
Kinh tế Việt Nam
Nghị quyết Hội nghị TƯ 5 khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước
15:30' - 05/06/2017
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
-
Kinh tế Việt Nam
Nghị quyết Hội nghị TƯ 5 khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
15:14' - 04/06/2017
Ngày 3/6/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt Nam
Điểm tin kinh tế Việt Nam nổi bật ngày 13/5/2026
21:49' - 13/05/2026
Từ điều hành phòng chống lũ sông Hồng, bảo hành công trình giao thông 10 năm, số hóa quản lý đô thị đến thúc đẩy xe điện, nhiều chính sách và dự án mới là những tin kinh tế Việt Nam nổi bật ngày 13/5.
-
Kinh tế Việt Nam
Lào đề nghị Việt Nam tiếp tục hỗ trợ đào tạo cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên
21:33' - 13/05/2026
Lào đề nghị Việt Nam tiếp tục hỗ trợ đào tạo, tập huấn cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, nhất là trong lĩnh vực truyền thông số và ứng dụng công nghệ mới.
-
Kinh tế Việt Nam
Bộ Xây dựng nói gì về đề xuất bảo hành đường 10 năm?
21:07' - 13/05/2026
Bộ Xây dựng khẳng định không phản đối kéo dài bảo hành công trình giao thông, song cho rằng đề xuất bảo hành tối thiểu 10 năm cần được nghiên cứu kỹ về tác động, chi phí và trách nhiệm bảo trì.
-
Kinh tế Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh đề xuất 58 dự án cấp bách giai đoạn 2026-2030
20:59' - 13/05/2026
Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh vừa rà soát, đề xuất 58 dự án dự kiến triển khai giai đoạn 2026 - 2030 theo yêu cầu cấp bách về giảm ùn tắc, chống ngập, chỉnh trang đô thị và phát triển nhà ở xã hội.
-
Kinh tế Việt Nam
Ngành Tổ chức xây dựng Đảng mở chiến dịch 45 ngày chuyển đổi số
19:58' - 13/05/2026
Chiều 13/5 tại Hà Nội, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo chuyển đổi số ngành Tổ chức xây dựng Đảng, trong đó triển khai chiến dịch 45 ngày tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số.
-
Kinh tế Việt Nam
Phó Thủ tướng: Việt Nam thu hút FDI đại trà sang hợp tác đầu tư có chọn lọc
19:33' - 13/05/2026
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định, trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam chuyển mạnh tư duy từ thu hút FDI đại trà sang hợp tác đầu tư có chọn lọc, chất lượng, hiệu quả và bền vững.
-
Kinh tế Việt Nam
Đồng Tháp phấn đấu tăng trưởng GRDP hai con số giai đoạn 2026-2030
19:06' - 13/05/2026
Đồng Tháp đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 9%/năm trở lên, đến năm 2030 đạt từ 10% trở lên; riêng năm 2026 phấn đấu đạt 8% - 8,5%.
-
Kinh tế Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh quyết tháo gỡ 838 dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực
17:24' - 13/05/2026
TP. Hồ Chí Minh đang đẩy nhanh tháo gỡ vướng mắc cho 838 dự án tồn đọng với tổng vốn hơn 206.000 tỷ đồng nhằm khơi thông đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng GRDP và mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.
-
Kinh tế Việt Nam
Phú Thọ tăng tốc hoàn thành giải phóng mặt bằng dự án Quốc lộ 2 trước 30/6
17:10' - 13/05/2026
Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Dương yêu cầu các địa phương, đơn vị tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng Quốc lộ 2 đoạn Vĩnh Yên - Việt Trì, hoàn thành trước ngày 30/6.

Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN