BNEWS Việt Nam rất cần có các doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu hiện đã, đang và tiếp tục phát triển mạnh mẽ để có được những công nghệ tiên tiến.
Chuỗi giá trị toàn cầu có 2 dạng là chuỗi giá trị ngắn và chuỗi giá trị dài. Chuỗi giá trị ngắn thường xảy ra trong ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến thô thông qua khai thác - sơ chế - thương mại - tiêu thụ.
Còn chuỗi giá trị dài thường được chú trọng từ khâu thiết kế, marketing... mới định ra các khâu của chuỗi. Các sản phẩm chế biến sâu, các sản phẩm công nghệ cao... thường áp dụng chuỗi giá trị từ các khâu nghiên cứu phát triển – vệ tinh chế tạo – sản xuất và lắp ráp – marketing – phân phối – tiêu thụ.
Như vậy, nếu Việt Nam muốn trở thành trung tâm công nghiệp của thế giới phải định rõ được lĩnh vực và ngành hàng mũi nhọn cần tham gia là công nghiệp chế biến sâu và các sản phẩm công nghệ (không tập trung vào khai khoáng và sơ chế).
Cùng đó, định rõ khâu tập trung nâng cao năng lực doanh nghiệp là nâng cao năng lực chế biến, chế tạo trong cung ứng hàng hoá và dịch vụ.
Tuy nhiên, một thực tế là hiện nay, Việt Nam đang quá lạm dụng tài nguyên trong phát triển kinh tế. Nhiều doanh nghiệp nhà nước và tư nhân đều tham gia vào việc khai thác khoáng sản, tài nguyên... xuất khẩu.
Trong khi đó, lực lượng doanh nghiệp Việt Nam chia theo các ngành hàng cho thấy phần lớn doanh nghiệp làm trong lĩnh vực dịch vụ vì dễ có thu nhập, chiếm khoảng hơn 68%.
Vì vậy, lực lượng doanh nghiệp có sẵn và sẵn sàng tham gia vào lĩnh vực chế biến, chế tạo và sản xuất ở Việt Nam là khiêm tốn. Đơn cử như đối với sản phẩm công nghiệp ô tô, tính đến năm 2014, cao nhất là tỷ lệ nội địa hoá của Toyota mới đạt 7%.
Cũng theo khảo sát về năng lực tham gia đối với khâu chế tạo của doanh nghiệp Việt Nam cho thấy: 30% doanh nghiệp trả lời là khó tiếp cận với các đơn hàng của các doanh nghiệp nước ngoài và tham gia chuỗi giá trị của họ; 70% doanh nghiệp cho biết là rất ít cơ hội tiếp cận đơn hàng gia công và 100% doanh nghiệp khẳng định yêu cầu về đơn hàng quá khắt khe so với năng lực cung ứng.
Vì vậy, có tới 67% doanh nghiệp luôn có nguyện vọng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong khâu chế biến, chế tạo.
Có thể nhận thấy, 3 cản trở lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất này bao gồm: vốn, trình độ nhân sự và công nghệ. Các cản trở này là nguyên nhân cơ bản và cũng là đặc trưng cố hữu của các doanh nghiệp trong hội nhập.
Vì vậy, trước hết cần khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn có vốn tự có rất nhỏ, năng lực tài chính yếu kém nên khó tiếp cận vốn vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Do đó, nhà nước và các tổ chức nên có gói tín dụng cho chương trình doanh nghiệp tham gia chế biến, chế tạo sâu..., dành vốn thích đáng cho các doanh nghiệp này và xác định ngành chế biến và chế tạo là mũi nhọn trong phát triển kinh tế. Đồng thời, nâng cao trình độ lập và thẩm định phương án cho vay, kể cả là cho vay mạo hiểm khi áp dụng công nghệ mới, sáng kiến mới.
Đối với nhân tố công nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam có chỉ số cạnh tranh thấp là do chỉ số xếp hạng công nghệ rất thấp so với các nước khác trong khu vực. Các sản phẩm làm ra chủ yếu đạt mức độ công nghệ trung bình và thấp, chiếm hơn 83%. Chi phí đầu vào quá cao so với nhà cung cấp cạnh tranh khác trong khu vực, nên khó tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, ở khâu sản xuất và chế tạo.
Vì thế, doanh nghiệp cần tăng cường đổi mới công nghệ mang tính chuyên sâu, tránh đầu tư tràn lan, khép kín thiếu chuyên nghiệp; Phải đầu tư nhỏ phân kỳ, giảm chi phí khấu hao theo thời gian, tránh dồn vào một thời điểm nhất định sẽ hạn chế năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Công nghệ đầu tư sau thường cập nhật và tiên tiến hơn công nghệ cũ. Nên chia nhỏ dây chuyền để đầu tư sẽ có điều kiện tiếp cận công nghệ mới hơn là đầu tư lớn một lần.
Điểm yếu kém thứ ba là chất lượng nhân lực quá thấp. Theo thống kê cho thấy, trong cơ cấu nguồn lao động của Việt Nam thì phần lớn là lao động phổ thông không qua đào tạo chiếm 81% lực lượng lao động; đại học và trên đại học chỉ chiếm khoảng 6,4%.
Vì vậy, nếu xét về năng suất lao động, Việt Nam cao gấp 2 lần Lào nhưng kém Singapore khoảng 15 lần, kém Malaysia 6 lần...
Do đó, để phát triển nhân lực, Việt Nam cần chú trọng tăng cường đào tạo gắn với kỹ năng thực hành, đặc biệt là đào tạo nghề kỹ thuật viên sản xuất, quản lý dây chuyền sản xuất...
Các lao động nghề và kỹ thuật là trọng tâm và phải chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu lao động thì mới hy vọng Việt Nam trở thành trung tâm chế tạo của thế giới.
Kinh nghiệm của Trung Quốc là khuyến khích các lao động có đào tạo như kỹ sư, cử nhân vào lao động cho các doanh nghiệp nước ngoài nhằm học hỏi công nghệ và kỹ thuật sản xuất, nắm bắt yêu cầu kỹ thuật cơ bản của nhà đầu tư nước ngoài sau này thành lập các nhà máy vệ tinh cung cấp linh kiện cho các nhà đầu tư đó. Chúng ta không thể chờ đợi đơn hàng từ các nhà đầu tư nước ngoài mới đầu tư sản xuất.
Cuối cùng, có thể tạo động lực bằng các cơ chế cho vay vốn sản xuất và cung cấp linh kiện cho các lao động hết thời gian làm việc cho các nhà đầu tư nước ngoài, lấy đó làm trọng tâm vốn con người kết nối giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Với những giải pháp đó, Việt Nam tất yếu sẽ phát triển các ngành chế biến và chế tạo sâu trong chuỗi giá trị toàn cầu và trở thành trung tâm chế tạo./.
Tin liên quan
Ngành thủy sản tăng trách nhiệm xã hội trước yêu cầu hội nhập
Mới có khoảng 30% nhà máy chế biến thủy sản quan tâm tới việc thực hiện trách nhiệm xã hội, trong khi lĩnh vực nuôi trồng và khai thác thủy sản trách nhiệm này gần như bỏ ngỏ.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamPhó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Không coi truy xuất nguồn gốc nông sản là thủ tục hành chính
Chiều 30/6, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Lễ công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản.
-
Kinh tế Việt NamGia Lai – Ba tầng không gian, nhiều động lực tăng trưởng - Bài cuối: Kiến tạo mô hình tăng trưởng mới
Sau hợp nhất, Gia Lai chuyển từ mở rộng không gian sang kiến tạo mô hình tăng trưởng mới, lấy quy hoạch, đổi mới sáng tạo, liên kết vùng và thu hút dòng vốn chất lượng cao làm động lực phát triển.
-
Kinh tế Việt NamGia Lai – Ba tầng không gian, nhiều động lực tăng trưởng - Bài 2: An Khê trên trục kết nối giao thương
Từng là đầu mối giao thương nối đại ngàn với biển cả, An Khê hôm nay tiếp tục giữ vai trò bản lề trong quy hoạch mới của Gia Lai, kết nối các hành lang kinh tế và không gian phát triển liên vùng.
-
Kinh tế Việt NamGia Lai – Ba tầng không gian, nhiều động lực tăng trưởng - Bài 1: Một chỉnh thể, nhiều động lực
Gia Lai đang tái cấu trúc không gian phát triển theo quy hoạch mới với ba tầng không gian, ba khu vực động lực và các hành lang kinh tế kết nối biển - cao nguyên, tạo dư địa tăng trưởng dài hạn.
-
Kinh tế Việt NamPhú Thọ sau hợp nhất: Tăng trưởng cao nhưng còn nhiều điểm nghẽn
Sau 1 năm hợp nhất 3 tỉnh, Phú Thọ duy trì tăng trưởng GRDP trên 10%, công nghiệp, thu ngân sách khởi sắc, song vẫn đối mặt áp lực giải ngân đầu tư công, logistics và sức chống chịu của doanh nghiệp.
-
Kinh tế Việt NamKiến tạo cực tăng trưởng mới từ "cú hích kép"
Đà Nẵng chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và các ngành có giá trị gia tăng cao.
-
Kinh tế Việt NamHoàn thiện thể chế khơi thông nguồn lực cho ngành dầu khí - năng lượng
Việc tháo gỡ các rào cản về cơ chế, chính sách sẽ tạo nền tảng để ngành dầu khí-năng lượng phát huy vai trò bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
-
Kinh tế Việt NamTrao "bộ lọc" mới cho dòng vốn FDI
Từ chỗ ưu tiên thu hút vốn và mở rộng số lượng dự án, TP. Hồ Chí Minh đang từng bước thiết lập những tiêu chí mới để lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài.
-
Kinh tế Việt NamTừ "hút" vốn sang chọn lọc đầu tư
Việt Nam không còn đặt trọng tâm vào thu hút càng nhiều vốn đầu tư càng tốt mà chuyển sang lựa chọn dòng vốn có chất lượng, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng và lan tỏa tới nền kinh tế trong nước.













