BNEWS Tính đến tháng 6 năm 2020, cả nước có 30,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19 gồm những người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc, giảm giờ làm, giảm thu nhập,…
Phát biểu tại cuộc họp báo tình hình lao động việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2020 được tổ chức sáng 10/7, tại Hà Nội, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Phạm Quang Vinh cho biết, dịch COVID-19 xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1/2020 đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động việc làm trong các ngành và tại tất cả các địa phương trong cả nước.
Theo đó, ảnh hưởng rõ rệt nhất vào quý II/2020 khi tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất hiện và đặc biệt là việc áp dụng các quy định về giãn cách xã hội được thực hiện triệt để trong tháng 4 năm 2020.
Tính đến tháng 6 năm 2020, cả nước có 30,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19 bao gồm những người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Ảnh hưởng do giảm thu nhập chiếm tỷ trọng cao nhất với 57,3% tổng số người bị ảnh hưởng (tương ứng 17,6 triệu người). Trong tổng số 30,8 triệu người bị ảnh hưởng, có 28,7 triệu người có việc làm; có 897.500 người thất nghiệp và 1,2 triệu người nằm ngoài lực lượng lao động. Tổng cục Thống kê cho biết, khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch COVID-19 với 72,0% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 67,8%; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 25,1%. Bà Vũ Thị Thu Thủy, Vụ trưởng Vụ Thống kê dân số và lao động, Tổng cục Thống kê cho biết, lao động có việc làm giảm mạnh nhất trong vòng 10 năm qua. Theo đó, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý II năm 2020 là 51,8 triệu người, giảm 2,4 triệu người so với quý trước và giảm gần 2,6 triệu người so với cùng kỳ năm trước, đây là mức giảm nhiều nhất trong vòng 10 năm qua; trong đó, lao động giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn và lao động nữ, số người có việc làm ở khu vực nông thôn giảm 1,8 triệu người so với quý trước và gần 2,1 triệu người so với cùng kỳ năm trước; lao động nữ giảm 1,2 triệu người so với quý trước và giảm 1,5 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Tổng cục Thống kê cũng chỉ ra, lao động có việc làm ở ba khu vực kinh tế đều giảm so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 17 triệu người, giảm 1,1 triệu người so với quý trước và giảm gần 1,7 triệu người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 16 triệu người, giảm 497.400 người so với quý trước và giảm 287.700 người so với cùng kỳ năm trước; khu vực dịch vụ là 18,7 triệu người, giảm 778.100 người so với quý trước và giảm 642.600 người so với cùng kỳ năm trước. Bà Vũ Thị Thu Thủy cho biết thêm, lao động có việc làm trong quý II năm nay giảm tương ứng so với mức giảm của lực lượng lao động. Điều này cho thấy, dịch COVID-19 làm cho đa số người lao động mất việc phải tạm thời rời khỏi thị trường lao động trong thời gian dịch bệnh lây lan, đặc biệt là trong tháng 4/2020 khi các biện pháp giãn cách xã hội được áp dụng nghiêm túc và triệt để. Theo đó, có một số ngành có số lao động giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 324,6 nghìn người; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 156,9 nghìn người; ngành giáo dục và đào tạo giảm 122,7 nghìn người; ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy giảm 120 nghìn người. Lao động trong một số nghề giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như: nghề lao động giản đơn giảm gần 8%; nhóm thợ thủ công và các thợ có liên quan giảm 6,6%; lao động trong nhóm nghề chuyên môn kỹ thuật bậc trung giảm 6,5%. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức quý II/2020 là 55,9%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ này ở khu vực nông thôn cao hơn 15,1 điểm phần trăm so với khu vực thành thị, tương ứng là 62,6% và 47,5%. Tỷ lệ lao động nữ làm công việc phi chính thức ở một số ngành dịch vụ khá cao (hoạt động làm thuê các công việc trong hộ gia đình: 97,7%, giáo dục và đào tạo: 79,5%, dịch vụ lưu trú và ăn uống: 69,0%). “ Đây là nhóm dễ bị ảnh hưởng hơn so với nam giới khi thị trường lao động chịu ảnh hưởng bởi các cú sốc về thay đổi chính sách hoặc thiên tai, dịch bệnh” ông Phạm Quang Vinh nhấn mạnh./.Tin liên quan
"Quả ngọt" từ chính sách hỗ trợ người lao động ngành than
Tập thể người lao động TKV đã tận dụng các điều kiện thuận lợi về thị trường để thực hiện thành công chủ đề Chuyển đổi mô hình từ sản xuất than sang mô hình sản xuất gắn với thương mại than".
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamChuẩn bị ‘hạ tầng mềm’ cho nhân lực đường sắt
Trường Đại học Giao thông vận tải ra mắt Thư viện số đường sắt với hơn 300 tài liệu, phục vụ đào tạo, nghiên cứu đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam, đáp ứng nhu cầu 35.000 nhân lực giai đoạn 2025-2030.
-
Kinh tế Việt NamKinh tế 8 tháng: Thêm cơ sở cho mục tiêu tăng trưởng hai con số
Những kết quả tích cực của các chỉ số kinh tế không chỉ củng cố nền tảng ngắn hạn mà còn khẳng định vị thế của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế về chặng đường phát triển dài hạn phía trước.
-
Kinh tế Việt NamHợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây
Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong.
-
Kinh tế Việt NamHợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển
Ngày 17/8/2026, Lâm Đồng và Mondulkiri ký thỏa thuận hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Chín ngày sau, Đắk Lắk và Mondulkiri ký Bản ghi nhớ hợp tác cho cùng giai đoạn.
-
Kinh tế Việt NamTP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài cuối: Nâng chất lượng tăng trưởng từ công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sau 23 năm, Khu Công nghệ cao TP.HCM thu hút 166 dự án với hơn 13 tỷ USD, nay xây Trung tâm Phát triển Công nghệ Chiến lược 52,92ha tập trung AI, bán dẫn để nâng năng suất, giá trị gia tăng.
-
Kinh tế Việt NamTP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài 2: Định hình những cực tăng trưởng mới
Khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, bài toán của TP. Hồ Chí Minh không chỉ là huy động thêm nguồn lực mà còn phải tổ chức và kết nối chúng hiệu quả hơn.
-
Kinh tế Việt NamTP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài 1: TP. Hồ Chí Minh đi đầu kiến tạo thể chế phát triển
Sau 40 năm Đổi mới, TP.HCM tiên phong "xé rào" thể chế, từ Khu chế xuất Tân Thuận đến Luật Phát triển đô thị, mở đường hình thành siêu đô thị tích hợp cùng Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu.
-
Kinh tế Việt NamKhu kinh tế biển hiện đại trên vùng cách mạng kiên trung
Khu kinh tế mở Chu Lai đã từng bước khẳng định vai trò là một cực tăng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, trở thành trung tâm công nghiệp, logistics và dịch vụ hiện đại.
-
Kinh tế Việt NamMở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài cuối - Những "điểm chạm" nối hai cực công nghiệp
“Muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì đi cùng nhau” – câu nói ấy có lẽ cũng đúng với hành trình thu hút dòng vốn FDI trong giai đoạn mới.













