BNEWS Theo số liệu của Cục Đăng ký doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp đã giải thể trong 8 tháng qua là 12.196 doanh nghiệp, và số doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể là 30.147.
Theo một khảo sát mới đây do Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ thực hiện về tình hình “sức khỏe” tài chính của trên 21.500 doanh nghiệp cho thấy, có tới 69% phải tạm ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh do dịch COVID-19.
Số doanh nghiệp cố gắng duy trì sản xuất, kinh doanh mặc dù không thể hoạt động toàn công suất chiếm 16%. Mong mỏi được hỗ trợ vay vốn ưu đãi, tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 cho người lao động, tạo điều kiện di chuyển, lưu thông hàng hóa… đã được nhiều doanh nghiệp nêu ra.
Hàng loạt nghị quyết nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh đã được Chính phủ ban hành kể từ năm 2020 đến nay, như Nghị quyết 84, Nghị quyết 86, Nghị quyết 68 và mới đây nhất là Nghị quyết 105 về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch COVID-19. Có thể nói hệ thống chính sách đã đủ, vấn đề còn lại là thực hiện sao cho nhanh, đúng và trúng. Bài 1 – Khu vực xây dựng, dịch vụ-du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Trong tổng số hơn 21.500 doanh nghiệp tham gia khảo sát đến từ tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, có 50% từ Thành phố Hồ Chí Minh, 26% từ Hà Nội, Bình Dương chiếm gần 4%, Đồng Nai hơn 2% và Đà Nẵng gần 2%.Phần lớn trong số này là doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh dưới 10 lao động, chiếm tới 41%; doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ 11 đến 50 chiếm gần 38%. Số doanh nghiệp có lao động từ 51 đến 200 người chiếm khoảng 15%. Doanh nghiệp có từ 201 đến 1.000 lao động chiếm 5% và doanh nghiệp có số lao động trên 1.000 người chiếm 1%.
Doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh có doanh thu dưới 3 tỷ đồng chiếm gần 39%, doanh thu từ 3 đến 50 tỷ đồng chiếm gần 42%, từ 50 đến 200 tỷ đồng chiếm gần 12%, từ 200 đến 1.000 tỷ đồng chiếm khoảng 5%, và doanh nghiệp có quy mô doanh thu trên 1.000 tỷ đồng chiếm hơn 2%. Có tới 95% đối tượng tham gia khảo sát là các hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần của Việt Nam - loại hình đại diện chính cho khu vực kinh tế tư nhân của nước ta. Số doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI hoặc liên doanh vốn với FDI) chiếm lần lượt là gần 1% và 3,3%. Đối tượng trả lời khảo sát hầu hết nắm giữ vị trí chủ chốt trong doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Thông tin về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp tham gia khảo sát kể từ khi làn sóng dịch thứ 4 bùng phát, Ban IV cho biết, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh do dịch chiếm tỷ lệ cao nhất: 69% (tương đương với 14.890 doanh nghiệp).Số doanh nghiệp cố gắng duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh mặc dù không thể hoạt động toàn công suất chiếm 16% (tương đương với 3.355 doanh nghiệp). Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động kinh doanh chờ giải thể là 15% (tương đương với 3.272 doanh nghiệp).
Theo số liệu công bố của Cục Đăng ký doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp đã giải thể trong 8 tháng qua là 12.196 doanh nghiệp, và số doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể là 30.147 doanh nghiệp.
Vấn đề này cũng tương đồng với văn bản do 14 hiệp hội ngành hàng chủ lực của Việt Nam (như dệt may, da giầy, sữa, thủy sản, gỗ, giấy, nhựa, điện tử…) gửi Thủ tướng Chính phủ mới đây, khi cho biết, việc giãn cách xã hội, phong tỏa diện rộng và kéo dài tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành phía Nam khiến doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) của Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2021 giảm 49,2%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 59,4%. Khoảng 18% doanh nghiệp châu Âu (EU) đã chuyển đơn hàng ra khỏi Việt Nam.
Nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, người lao động mất việc làm, nông-ngư dân không tiêu thụ được sản phẩm. Nhiều lao động không có thu nhập và tiền dự trữ. Kết quả khảo sát cho thấy, tình trạng hoạt động của các doanh nghiệp ở 5 tỉnh, thành phố có sự khác biệt đáng kể. Tỷ lệ doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh (dù dưới công suất) là 11,6% ở Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp đến là Đà Nẵng 9%.Tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh do dịch ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai cao hơn mức trung bình chung và đều trên 71%. Đây cũng là những tỉnh, thành phố có số ca mắc COVID-19 rất cao hiện nay và thực hiện việc giãn cách, cách ly kéo dài.
Xét theo quy mô lao động, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động chờ giải thể tập trung cao ở doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ (chiếm 18,6% trong số các doanh nghiệp siêu nhỏ tham gia khảo sát, ở các quy mô còn lại, tỷ lệ này dao động quanh mức 12%). Số doanh nghiệp duy trì được một phần hoạt động kinh doanh so với doanh nghiệp cùng quy mô tập trung nhiều ở các doanh nghiệp có quy mô lớn. So với doanh nghiệp cùng quy mô lao động, số doanh nghiệp duy trì được một phần hoạt động sản xuất trong bối cảnh dịch của doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ chiếm khoảng 8,9% trong khi đó tỷ lệ này ở doanh nghiệp siêu lớn (trên 1.000 lao động) chiếm hơn 42% và ở doanh nghiệp lớn (từ 201 - 1.000 lao động) chiếm 34,5%.Lý giải điều này, bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban IV cho rằng, các doanh nghiệp quy mô lớn, siêu lớn thường có ràng buộc trách nhiệm rất cao trong các chuỗi cung ứng, sản xuất, xuất nhập khẩu nên việc duy trì hoạt động trở thành vấn đề mang tính “sống còn”.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này thông thường đều có quy định về quy trình hoạt động, hay bộ quy tắc liên quan đến an toàn lao động, tiêu chuẩn kỹ thuật, đặc biệt ở các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thường có các bộ quy tắc theo quy định của công ty mẹ để áp dụng tại các nước phát triển và điều này giúp duy trì hoạt động (hoặc một phần hoạt động) ngay cả khi bối cảnh dịch hết sức khó khăn.Các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, siêu lớn thường có nhà xưởng lớn, vì vậy, khi tổ chức hoạt động trong bối cảnh dịch, họ cũng có điều kiện để có thể thực hiện giãn cách tương đối theo yêu cầu của các mô hình "3 tại chỗ", "2 cung đường 1 điểm đến" hay các yêu cầu giãn cách khác.
Xét theo quy mô doanh thu, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động chờ giải thể của doanh nghiệp siêu nhỏ với doanh thu dưới 3 tỷ đồng so với doanh nghiệp có cùng quy mô là gần 21%. Trong khi đó, tỷ lệ này đối với doanh nghiệp có doanh thu trên 200 tỷ đồng/năm là khoảng 8,5% so với doanh nghiệp cùng quy mô.
Doanh nghiệp có quy mô doanh thu càng lớn thì tỷ lệ duy trì được một phần hoạt động sản xuất, kinh doanh càng cao. Tỷ lệ này là trên 27% của số doanh nghiệp có quy mô doanh thu từ 50 - 200 tỷ đồng/năm, gần 37% của số doanh nghiệp có quy mô doanh thu từ 200 – 1.000 tỷ đồng/năm và cao nhất là 47,3% của số doanh nghiệp có quy mô trên 1.000 tỷ đồng/năm. Khảo sát cũng cho thấy, các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực dịch vụ và nông, lâm nghiệp, thủy sản chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch COVID-19 với 17% phải giải thể, trong khi khu vực công nghiệp và xây dựng lần lượt là 10% và 13%. Dù phải cắt giảm lao động, song, vẫn có 24% doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp có khả năng duy trì hoạt động sản xuất. Nêu ra tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động kinh doanh trong khu vực xây dựng là 76%, cao nhất khi so với các khu vực kinh tế khác, Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân cho rằng, con số này phản ánh khá tương đồng với kết quả khảo sát tình hình việc làm và thu nhập của người lao động trong bối cảnh đại dịch COVID-19 do Ban này thực hiện vào đầu tháng 8/2021, tỷ lệ mất việc của người lao động trong các doanh nghiệp xây dựng cao nhất so với tỷ lệ mất việc của các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. “Ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch bệnh, chỉ còn khoảng 4% doanh nghiệp duy trì được hoạt động so với các doanh nghiệp cùng ngành, vì trong đợt bùng phát dịch lần thứ 4, do tình trạng dịch lan rộng toàn quốc buộc chính quyền tại nhiều tỉnh, thành phố thực hiện việc phong tỏa, giãn cách, cách ly, các khách sạn, nhà hàng tiếp tục rơi vào tình trạng "đóng băng", không có khách, ngay cả các hộ kinh doanh ăn uống cũng không được phép hoạt động hoặc hoạt động ở mức độ rất cầm chừng”, bà Phạm Thị Ngọc Thủy cho hay./. >>> Đọc tiếp: Bài 2 - Thiếu hụt về dòng tiềnTin liên quan
Ra mắt Hội đồng Hợp tác Doanh nghiệp ứng phó COVID-19
Hội đồng được thành lập nhằm nắm bắt tình hình và kịp thời phản ánh các vấn đề phát sinh, các khó khăn vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamHưng Yên tăng trưởng hai con số nhờ các yếu tố bền vững
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) trong 6 tháng đầu năm ước tăng 10,72% so với cùng kỳ năm 2025, đưa Hưng Yên trở thành một trong 5 địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất cả nước.
-
Kinh tế Việt NamKinh tế 6 tháng: Củng cố thị trường nội địa, tạo động lực tăng trưởng
Ngày 3/7, tại Hà Nội, Đảng bộ Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ các tháng cuối năm 2026.
-
Kinh tế Việt NamĐiểm tin kinh tế Việt Nam nổi bật ngày 3/7/2026
Thu ngân sách vượt 1,38 triệu tỷ đồng, chất lượng không khí cải thiện sau một tháng dùng xăng E10, cùng nhiều chuyển động về đầu tư, hạ tầng và thương mại là những điểm nhấn kinh tế ngày 3/7.
-
Kinh tế Việt NamSiết xác thực người bán, quản lý chặt livestream bán hàng và tiếp thị liên kết
Ngày 3/7, tại trụ sở Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Thương mại điện tử và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật.
-
Kinh tế Việt NamThủ tướng Lê Minh Hưng: Tăng tốc hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia, phát triển công nghệ chiến lược
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành tăng tốc xây dựng, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia, phát triển công nghệ chiến lược và hoàn thiện hạ tầng nghiên cứu để thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo.
-
Kinh tế Việt NamThủ tướng Lê Minh Hưng: Khung Kiến trúc tổng thể quốc gia số phải bảo đảm liên thông từ Trung ương đến cơ sở
Chiều 3/7, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì làm việc với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, cơ quan liên quan về Khung Kiến trúc tổng thể quốc gia số.
-
Kinh tế Việt NamViệt Nam phát huy vai trò điều phối tại phiên họp CPTPP
Việt Nam chủ trì Hội đồng CPTPP lần thứ 10, khởi động đàm phán gia nhập với Indonesia, Philippines và UAE, đồng thời thúc đẩy mở rộng hiệp định và tăng cường hợp tác thương mại.
-
Kinh tế Việt NamBắc Ninh bứt phá để đạt tăng trưởng 13% trong năm 2026
GRDP 6 tháng đầu năm của Bắc Ninh tăng 10,56%, đứng thứ 6 cả nước. Tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng 13% trong năm 2026, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn đầu tư, hạ tầng và cải cách hành chính.
-
Kinh tế Việt NamThúc tiến độ dự án giao thông trọng điểm ven biển tỉnh Lâm Đồng
Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng yêu cầu đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, tăng tốc thi công và giải ngân các dự án giao thông ven biển hơn 1.550 tỷ đồng, xử lý nghiêm nhà thầu chậm tiến độ.











