Tăng liên thông dữ liệu, nâng hiệu quả vận hành liên hồ và cảnh báo sớm

  • Bích Hồng – Thu Hằng/bnews/vnanet.vn

BNEWS Liên quan đến góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên nước và Luật Khí tượng thủy văn, các đại biểu Quốc hội đề nghị tăng liên thông dữ liệu, điều phối vận hành liên hồ theo thời gian thực...

Chiều 12/8, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Liên quan đến góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên nước và Luật Khí tượng thủy văn, các đại biểu Quốc hội đề nghị tăng liên thông dữ liệu, điều phối vận hành liên hồ theo thời gian thực, bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn vùng hạ du.

Đại biểu Trần Mạnh Huy (Đoàn thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

*Đại biểu Trần Mạnh Huy (Đoàn thành phố Đà Nẵng): Cần liên thông dữ liệu vận hành liên hồ để cảnh báo sớm vùng hạ du

Hiện 11 quy trình vận hành liên hồ chứa đã được triển khai. Qua khảo sát việc thực hiện Quyết định số 1865/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn cho thấy, vấn đề không chỉ là vận hành từng hồ mà phải đánh giá tác động trên toàn lưu vực, nhất là đối với vùng hạ du.

Dữ liệu hiện không thiếu khi chủ hồ có thông tin vận hành, cơ quan khí tượng thủy văn có dữ liệu mưa, dự báo và địa phương có dữ liệu phục vụ ứng phó. Điểm nghẽn là các nguồn dữ liệu chưa được kết nối đầy đủ để phục vụ dự báo, vận hành và cảnh báo sớm.

Do đó, cần luật hóa theo nguyên tắc liên thông dữ liệu thời gian thực giữa hệ thống quản lý tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và phòng, chống thiên tai; đồng thời bảo đảm kết nối dữ liệu phục vụ dự báo dòng chảy, mô phỏng các kịch bản vận hành và đánh giá tác động vùng hạ du.

Người dân không cần những thông số kỹ thuật khó hình dung, chẳng hạn hồ xả 1.500 hay 2.000 m3/s. Điều người dân cần biết là nơi nào sẽ ngập, nước đến nhà nào, ngập sâu bao nhiêu và trong bao lâu, đường nào bị chia cắt, phải di chuyển đến đâu an toàn. Nếu những thông tin này đến với chính quyền và người dân đủ sớm, đủ tin cậy và đủ rõ để hành động, thì nhiều thiệt hại về người và tài sản ở vùng hạ du trong những năm qua có thể đã được hạn chế đáng kể. Đó mới là giá trị cuối cùng của dữ liệu thời gian thực.

Đồng thời cần quy định rõ trách nhiệm chia sẻ, tiếp nhận và truy vết thông tin vận hành, trong đó xác định cụ thể đơn vị cung cấp, thời điểm chia sẻ và trách nhiệm khi thông tin sai, chậm hoặc không được cung cấp kịp thời.

Chính phủ cần rà soát, đồng bộ 11 quy trình vận hành liên hồ hiện nay, bảo đảm thống nhất về kết nối, chia sẻ và truy vết thông tin. Mục tiêu cuối cùng là chuyển dữ liệu vận hành thành thông tin cảnh báo đủ sớm, đủ rõ để chính quyền và người dân vùng hạ du có thể chủ động ứng phó.

Đại biểu Đặng Anh Tuấn (Đoàn thành phố Đồng Nai). Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

*Đại biểu Đặng Anh Tuấn (Đoàn thành phố Đồng Nai): Đơn giản hóa thủ tục phải đi đôi với bảo đảm an ninh nguồn nước

Đối với lĩnh vực tài nguyên nước và khí tượng thủy văn, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính cần đi đôi với yêu cầu cao về an ninh nguồn nước, an toàn tính mạng, tài sản, phòng chống thiên tai, quốc phòng - an ninh và bảo vệ môi trường. Đây là những lĩnh vực có tính liên vùng, liên tỉnh, thậm chí xuyên biên giới, nên một quyết định không phù hợp có thể tác động trực tiếp đến cộng đồng và các địa phương hạ du.

Do đó, cần duy trì cơ chế kiểm soát đối với hoạt động chuyển nước lưu vực sông, tác động vào thời tiết và các hoạt động có phạm vi ảnh hưởng liên tỉnh, liên vùng. Việc vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực cũng cần sử dụng thống nhất dữ liệu khí tượng thủy văn, tài nguyên nước và dữ liệu vận hành hồ.

Đối với hoạt động tác động vào thời tiết, cần quản lý theo mức độ rủi ro, không nên chuyển hoàn toàn từ cơ chế thẩm định, phê duyệt sang thông báo, nhất là với những hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến cộng đồng và môi trường.

Đề nghị sửa đổi Điều 37, Điều 38 Luật Tài nguyên nước theo hướng không làm ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước, cấp nước sinh hoạt, dòng chảy tối thiểu và nhu cầu sử dụng nước thiết yếu của lưu vực chuyển nước, nhất là trong thời kỳ hạn hán, thiếu nước. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm lấy ý kiến các địa phương, tổ chức lưu vực sông và cơ quan chuyên môn; có cơ chế điều chỉnh, giảm hoặc tạm dừng lượng nước chuyển khi nguồn nước không bảo đảm.

Cùng với đó, cần làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa; bổ sung cơ chế xử lý khi xảy ra lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, sự cố công trình hoặc số liệu quan trắc có sai biệt, trong đó xác định rõ thẩm quyền quyết định, thứ tự ưu tiên cấp nước và trách nhiệm của người ra quyết định.

* Đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang): Điều phối liên hồ cần tính toán trên toàn lưu vực

Cần làm rõ cơ chế điều phối vận hành trong thời gian thực, nhất là giữa các hồ chứa thuộc thẩm quyền quản lý khác nhau. Thực tiễn tại tỉnh Tuyên Quang qua các đợt mưa lớn năm 2025 cho thấy, đây là vấn đề cần được quan tâm khi nhiều hồ trên cùng một hệ thống sông đồng thời phải điều tiết xả nước. Nếu thời điểm, lưu lượng xả và dự báo chưa được tính toán, điều phối đồng bộ trên toàn lưu vực, có thể làm gia tăng áp lực dòng chảy, ảnh hưởng khả năng tiêu thoát nước và an toàn vùng hạ du.

Hiện các hồ đã có quy định khá cụ thể về quan trắc lượng mưa, mực nước, lưu lượng nước đến hồ, lưu lượng xả và dự báo; trong một số tình huống, dữ liệu được cập nhật với tần suất ngắn. Vấn đề không hẳn là thiếu dữ liệu mà là cơ chế chia sẻ, tổng hợp dữ liệu theo thời gian thực và quyền hạn, trách nhiệm điều phối liên hồ giữa các cấp, ngành.

Để khắc phục hạn chế này, đề nghị dự thảo Luật Tài nguyên nước quy định rõ ba nhóm vấn đề. Thứ nhất, nguyên tắc liên thông, chia sẻ dữ liệu vận hành theo thời gian thực giữa các hồ chứa trên cùng lưu vực sông.

Thứ hai, cần quy định cơ chế điều phối vận hành liên hồ chứa trong thời gian thực. Theo đó, việc vận hành trong tình huống bất thường cần được điều phối trên cơ sở đánh giá tổng thể toàn lưu vực, tính đến lưu lượng xả của các hồ, dòng chảy tự nhiên, khả năng tiếp nhận của hệ thống sông và tác động đối với khu vực thượng lưu, hạ lưu, thay vì chỉ căn cứ yêu cầu an toàn của từng hồ riêng lẻ.

Thứ ba, cần xác định rõ trách nhiệm của cơ quan điều hành, tổ chức quản lý, vận hành hồ chứa và các địa phương liên quan khi phải điều chỉnh vận hành giữa các hồ thuộc thẩm quyền quản lý khác nhau. Các yêu cầu kỹ thuật, tần suất cập nhật, chuẩn dữ liệu, phương thức kết nối và quy trình điều hành cụ thể có thể giao Chính phủ quy định.

Quy định như trên vừa không làm thay đổi thẩm quyền quản lý hiện hành, vừa làm rõ bản chất của vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực. Không chỉ cần nắm được tình trạng vận hành của từng hồ mà phải điều phối được cả hệ thống theo diễn biến thực tế của lưu vực, qua đó giảm thiểu rủi ro đối với người dân và các khu vực chịu tác động.

Bích Hồng – Thu Hằng/bnews/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục