BNEWS Nhiều chuyên gia cho rằng, công nghệ khai thác của Việt Nam còn lạc hậu, công tác quản lý thiếu minh bạch, ổn định...
Theo đánh giá của Ủy ban Điều tra địa chất Hoa Kỳ (USGS), Việt Nam đứng thứ 7 về khai thác dầu thô ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương; hàng năm khai thác khoảng 40 triệu tấn than, hơn 190.000 tấn mangan và nhiều loại khoáng sản khác...
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, công nghệ khai thác của Việt Nam còn lạc hậu, công tác quản lý thiếu minh bạch, ổn định...
Vì vậy, cần có giải pháp thay đổi để tăng hiệu quả khai thác cũng như phát triển ngành này.
Việt Nam không phải là quốc gia giàu tài nguyên khoáng sản. Trong hai thập kỷ qua, nhiều loại khoáng sản của Việt Nam đã được khai thác ở quy mô lớn và đứng trước nguy cơ cạn kiệt trong tương lai gần.Ông Nguyễn Minh Đức, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho hay, mặc dù có hơn 60 loại khoáng sản và khoảng 5.000 điểm mỏ, nhưng khoáng sản của Việt Nam có tiềm năng nhỏ, trữ lượng ít và thiếu về chủng loại.
Theo tính toán, số năm khai thác còn lại của dầu khí là 56 năm, barit là 21 năm, kẽm là 17 năm và vàng là 21 năm.
Bên cạnh đó, ông Đức cũng cho rằng, Việt Nam có khoảng trên 170 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản.Các hoạt động khoáng sản chủ yếu tập trung vào nhóm 5 tập đoàn và tổng công ty lớn.
Song, hầu hết các doanh nghiệp khai thác của Việt Nam chủ yếu chế biến ở mức quặng và tinh quặng, ít tạo giá trị gia tăng.
Công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp khai thác đang gây tổn thất lớn trong khai thác chế biến khoáng sản ở Việt Nam: khoảng 40-60% đối với khai thác hầm lò, 26-43% đối với quặng apatit, 15-30% đối với quặng kim loại...
Cùng quan điểm trên, TS. Nguyễn Huy Hoàn, Vụ phó Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương cho rằng, do nhu cầu vốn cho hiện đại hoá công nghệ lớn nên vẫn còn nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực than, khoáng sản rắn có công nghệ, thiết bị lạc hậu, chi phí sản xuất cao, tổn thất tài nguyên lớn nhưng chưa quan tâm thích đáng hoặc chưa có điều kiện để đổi mới hiện đại hoá công nghệ.Tỷ lệ áp dụng cơ giới hoá đồng bộ khai thác hầm lò còn thấp; tình trạng ô nhiễm, xả thải ra môi trường chưa được khắc phục triệt để. Mặt khác, tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt và nằm ở sâu hơn, điều kiện khai thác ngày càng khó khăn...
Do vậy, theo ông Hoàn, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao công nghệ chế biến khoáng sản tiên tiến, thân thiện môi trường, tạo ra giá trị kinh tế cao, nghiên cứu công nghệ khai thác các mỏ có điều kiện phức tạp, gia tăng hệ số thu hồi và hiệu quả khai thác dầu, chế biến sâu khí, khai thác chế biến apatit...Liên quan đến vấn đề này, về phía doanh nghiệp, bà Nguyễn Hoàng Yến, Trưởng ban Khoa học Công nghệ của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam bày tỏ, việc thực hiện ứng dụng và nâng cao khoa học, công nghệ khai thác tại các tập đoàn lớn nói chung và PVN nói riêng gặp nhiều khó khăn về kinh phí.Do vậy, cần tiếp tục thực hiện Đề án “Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2025”, theo hướng khuyến khích và đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.
Trước hết, nhà nước cần có các chính sách cụ thể về mặt tài chính, thuế, phí… để hỗ trợ những đơn vị ứng dụng đổi mới khoa học công nghệ cao.
Ngoài ra, cần hoàn thiện hơn nữa quy chế quản lý khoa học công nghệ phù hợp với hiện trạng phát triển của đơn vị, cải tiến các thủ tục quản lý theo hướng thúc đẩy ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh.
Đại diện lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng thừa nhận, việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, quản lý đã được triển khai ở một số đơn vị nhưng nhiều nơi vẫn còn chậm, dẫn đến năng suất lao động, hiệu quả còn thấp, năng lực cạnh tranh hạn chế.Ngoài ra, công tác quản lý vật tư, quản trị chi phí chưa tốt (chi phí đầu vào cao, năng suất lao động thấp) dẫn đến giá thành cao, hiệu quả sản xuất hạn chế.
“Một số vi phạm trong quản lý, điều hành chưa được phát hiện kịp thời, vẫn còn xảy ra một số gian lận thương mại trong chế tạo cơ khí, tiêu thụ than, mua bán vật tư thiết bị”, lãnh đạo TKV cho biết.
TKV cho hay, trong giai đoạn tới, đơn vị này sẽ đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ mới, cơ giới hoá và tự động hoá trong khai thác hầm lò, khai thác lộ thiên; hoàn thiện hệ thống sàng tuyển, chế biến than tại các mỏ và nhà máy sàng tuyển để nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường đồng thời tăng hệ số thu hồi than, giảm chi phí vận chuyển.Bên cạnh những yếu kém về công nghệ trong khai khoáng, một vấn đề nảy sinh được nhiều chuyên gia đề cập là cơ chế quản lý. Theo VCCI, cơ chế quản lý như hiện nay của Việt Nam không tạo ra môi trường minh bạch và cạnh tranh cho đầu tư bền vững.Khảo sát của đơn vị này cho thấy, doanh nghiệp khai khoáng đánh giá thấp về mức độ minh bạch trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam.
Có tới 72% doanh nghiệp khai khoáng thừa nhận phải dựa vào mối quan hệ với cơ quan nhà nước để tiếp cận thông tin, tài liệu.
Có tới 85% doanh nghiệp thừa nhận thường xuyên phải chi trả các khoản tiền không chính thức trong quá trình hoạt động...
Ông Nguyễn Minh Đức, đại diện VCCI cho rằng, cần đẩy nhanh việc minh bạch hoá để có thể tạo ra môi trường cạnh tranh, ổn định để thu hút những dự án khai thác khoáng sản có công nghệ tốt và hiệu quả cao.Đồng thời, việc minh bạch hoá, chia sẻ thông tin và phối hợp giữa các bộ ngành sẽ chặt chẽ hơn.
Bên cạnh đó, cần tạo ra cơ sở dữ liệu đầy đủ về lĩnh vực khoáng sản từ cấp phép, quản trị doanh nghiệp nhà nước, đóng góp ngân sách đến các tác động kinh tế xã hội.
Điều này sẽ giúp ích trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, các chính sách cũng như xác định cơ hội cải cách ngành khoáng sản.
Cùng quan điểm trên, TS. Nguyễn Thành Vạn, Trưởng ban tư vấn phản biện, Tổng hội Địa chất Việt Nam cũng cho rằng, việc cam kết thực hiện minh bạch thông tin trong khai khoáng sẽ tạo ra cơ chế đối thoại hiệu quả giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng; thể hiện cam kết của Chính phủ đối với cộng đồng quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp về nỗ lực cải cách ngành khoáng sản.Khi tham gia cải cách, minh bạch hoá ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, sẽ rất tốt cho Việt Nam trong việc tăng hiệu quả quản lý khai thác, xuất khẩu khoáng sản và cả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp./.
Tin liên quan
Công nghệ doanh nghiệp khai khoáng đã tiếp cận trình độ khu vực
Đến nay, hầu hết công nghệ trong lĩnh vực khai thác và chế biến dầu khí đã tiệm cận trình độ khu vực, hoạt động đảm bảo an toàn lao động, đạt tiêu chuẩn môi trường.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamXử lý tài sản công dôi dư: Vẫn còn khoảng cách từ chủ trương đến thực tiễn
Theo Bộ Tài chính, cả nước hiện có hơn 11.000 cơ sở nhà, đất đã được thu hồi hoặc chuyển giao về địa phương nhưng vẫn cần tiếp tục xử lý để đưa vào sử dụng.
-
Kinh tế Việt NamTăng cường hợp tác đầu tư với tỉnh Aichi (Nhật Bản)
Theo thông tin từ Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn vừa có buổi làm việc với Ngài Ohmura Hideaki, Thống đốc tỉnh Aichi (Nhật Bản).
-
Kinh tế Việt NamNghị quyết số 10-NQ/TW: Kiến tạo dòng vốn FDI chất lượng cao
Sau nhiều năm duy trì sức hút đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ thu hút đầu tư theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng dòng vốn.
-
Kinh tế Việt NamĐịnh vị chiến lược và kiến tạo động lực phát triển trong kỷ nguyên mới
Sau hợp nhất, Đắk Lắk có không gian tự nhiên rộng hơn, quy mô dân số lớn hơn, hệ thống hành chính đa dạng và khả năng liên kết vùng sâu rộng hơn.
-
Kinh tế Việt NamKinh tế tuần hoàn - Động lực phát triển xanh hướng tới bền vững
Với hệ thống chính sách đã được ban hành tương đối đồng bộ, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để biến thách thức môi trường thành động lực phát triển mới.
-
Kinh tế Việt NamCửa ngõ để hàng Việt tiếp cận thị trường Nam Mỹ
Uruguay không chỉ là một thị trường giàu tiềm năng mà còn giữ vai trò cửa ngõ quan trọng để hàng hóa Việt Nam tiếp cận khu vực Nam Mỹ.
-
Kinh tế Việt NamNghị quyết số 57-NQ/TW: Chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã ban hành Thông báo số 24-CQTTBCĐ ngày 7/7/2026.
-
Kinh tế Việt NamQuản trị rủi ro vượt "sóng cả" thị trường
Ngành dệt may Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược khi chuyển từ phân khúc gia công giá rẻ sang bứt phá tại các thị trường cao cấp quốc tế.
-
Kinh tế Việt NamTP. HCM mở rộng không gian, tạo sức bật mới cho du lịch
Thống kê của ngành chức năng, khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh 6 tháng đầu năm 2026 đạt 6.396.102 lượt, khách nội địa 27.315.000 lượt, tổng thu du lịch đạt 213.980 tỷ đồng.











