Ứng phó với khó khăn trong chuỗi cung ứng toàn cầu-Bài 2: Tận dụng hiệu quả các cam kết

11:00' - 04/03/2020
Bnews Những cam kết từ Hiệp định EVFTA sẽ tăng khả năng cạnh tranh về giá khi nhập khẩu cũng như thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – EU và mở rộng thị trường cho hàng xuất khẩu.

Việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu đã và đang đem lại nhiều cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp Việt Nam, góp phần tăng trưởng xuất khẩu, thu hút được dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với giá trị lớn, công nghệ tiên tiến hơn.
Nghị viện châu Âu (EP) vừa bỏ phiếu thông qua Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) sẽ là cơ hội quan trọng giúp Việt Nam đạt mục tiêu trên, đồng thời đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, tránh lệ thuộc vào một thị trường.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên TTXVN đã phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh về chiến lược nâng cao năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh. Ảnh: Uyên Hương/BNEWS/TTXVN

Phóng viên:Được đánh giá là một Bộ năng động, sáng tạo và hiệu quả trong vai trò đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại cũng như trực tiếp tìm kiếm các thị trường nước ngoài, thưa Bộ trưởng, đến thời điểm hiện tại, ông đánh giá như thế nào về các thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam?
Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Việt Nam đang ngày càng tham gia rộng và sâu vào chuỗi các giá trị toàn cầu; liên tục các Hiệp định thương mại tự do lớn được ký kết, tiếp tục khẳng định và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Hiện tại, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Hàng hóa Việt Nam không chỉ duy trì, nâng cao khả năng khai thác các thị trường truyền thống mà còn không ngừng mở rộng, phát triển thêm nhiều thị trường mới.
Thống kê cho thấy, năm 2019 đã có 31 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD; trong đó 4 thị trường đạt trên 10 tỷ USD, 10 thị trường trên 5 tỷ USD.
Đặc biệt, việc tìm kiếm thị trường nhằm tránh phụ thuộc vào một số thị trường nhất định cũng đang được Bộ Công Thương tăng cường nhằm thực hiện mục tiêu mà Chính phủ cũng như Thủ tướng Chính phủ kỳ vọng.
Đáng lưu ý, về cơ cấu thị trường, xuất khẩu sang khu vực thị trường châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng xuất khẩu của cả nước (50,6% trong năm 2019), tiếp đến là thị trường châu Mỹ (chiếm 27,6%), thị trường châu Âu (chiếm 15,7%), còn lại là thị trường châu Đại Dương và thị trường châu Phi.
Hơn nữa, xuất khẩu tập trung với 6 khu vực thị trường lớn (bao gồm 40 nước) là Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Ngoài ra, một sự kiện quan trọng, mở ra cơ hội mới cho Việt Nam trong việc tiếp cận thị trường rộng lớn, có quy mô lên tới 18.000 tỷ USD là việc Hiệp định EVFTA vừa được EP bỏ phiếu thông qua.
EU là một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2018 đạt 55,8 tỷ USD; trong đó xuất khẩu đạt 41,9 tỷ USD, nhập khẩu đạt 13,9 tỷ USD. Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU là tính bổ sung rất lớn, ít mang tính cạnh tranh đối đầu trực tiếp.
Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020; 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định.
Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu từ EU cũng tăng nhưng với tốc độ thấp hơn xuất khẩu, cụ thể là khoảng 15,28% vào năm 2020; 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030.
Về mặt vĩ mô, EVFTA góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18-3,25% (năm 2019-2023); từ 4,57-5,30% (năm 2024-2028) và từ 7,07-7,72% (năm 2029-2033).
Điều này sẽ góp phần giúp Việt Nam mở ra cơ hội tăng trưởng xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại, thu hút đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như tránh được tình trạng phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu nhất định.

Dây chuyền chế biến thịt ếch xuất khẩu tại Công ty TNHH Tân Thành Lợi, tỉnh Long An. Ảnh: Danh Lam – TTXVN 

Phóng viên:Trong bối cảnh dịch COVID-19 đang lan nhanh, thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là Trung Quốc đang gặp khó khăn. Vậy, thông tin về EVFTA có ý nghĩa như thế nào thưa Bộ trưởng? 

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Theo tính toán của các nhà kinh tế, nền kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ không tăng trưởng trong quý I của năm 2020 do những tác động tiêu cực đến từ dịch COVID-19.
Hơn nữa, dịch bệnh này với tâm dịch là Trung Quốc dự kiến sẽ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến các nền kinh tế trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng khi Trung Quốc đang là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất.
Như tôi đã đề cập ở trên, trong bối cảnh việc tiếp cận thị trường Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn do các diễn biến phức tạp của dịch bệnh, Hiệp định EVFTA được phê chuẩn sẽ mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng với 508 triệu dân và tổng sản phẩm nội địa (GDP) khoảng 18.000 tỷ USD, giảm thiểu phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc.
Những cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ có được từ Hiệp định EVFTA chắc chắn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh về giá của hàng hóa Việt Nam khi nhập khẩu vào thị trường quan trọng này, giúp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – EU và mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Điều này càng có ý nghĩa khi hiện nay, mới chỉ hơn 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU được hưởng mức thuế 0% theo Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP).
Ngoài ra, Chương trình GSP dự kiến cũng không thể kéo dài do nhiều ngành hàng của Việt Nam được EU coi là đã vượt trình độ cạnh tranh so với các nước được nhận ưu đãi khác.
Vì vậy, dự kiến sẽ được hưởng lợi nhiều từ Hiệp định này đều là những ngành Việt Nam vốn có lợi thế cạnh tranh cao như: giày, dép, mũ, hàng dệt may và nông thủy sản.
Các ngành chịu sức ép cạnh tranh dự kiến gồm có hóa chất, phương tiện và thiết bị vận tải, thực phẩm chế biến và sản phẩm kim loại cơ bản.
Tương tự về nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ được lợi từ nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý hơn từ EU, đặc biệt là nguồn máy móc, thiết bị, công nghệ/kỹ thuật cao từ các nước EU sẽ giúp nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm.
Đặc biệt, khi hàng hóa, dịch vụ từ EU nhập khẩu vào Việt Nam sẽ tạo ra một sức ép cạnh tranh để doanh nghiệp Việt Nam nỗ lực cải thiện năng lực cạnh tranh.
Đáng chú ý, với EVFTA, chuỗi giá trị mới của Việt Nam với một đối tác quan trọng trên thế giới sẽ được hình thành.
Môi trường đầu tư mở và thuận lợi hơn khi triển vọng xuất khẩu hấp dẫn sẽ thu hút đầu tư FDI từ EU vào Việt Nam nhiều hơn, đặc biệt là các lĩnh vực như: dịch vụ, tài chính, ô tô, chế biến chế tạo, công nghệ thông tin, công nghệ cao, nông sản thực phẩm chế biến...
Gắn với đó, những yêu cầu đặt ra trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thể chế, chính sách pháp luật sau đường biên giới... theo hướng minh bạch, thuận lợi và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế sẽ là những tiền đề quan trọng đưa Việt Nam tăng tốc phát triển lên một tầm cao mới.

Doanh nghiệp Việt Nam chủ động nâng cao năng lực sản xuất trong nước, đồng thời gắn kết sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ảnh minh họa: TTXVN


Phóng viên: EVFTA được EP bỏ phiếu thông qua sẽ tạo cú huých cho xuất khẩu. Bộ trưởng đánh giá thế nào về sự chiếm lĩnh hàng Việt trên thị trường châu Âu? 


Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Với Hiệp định EVFTA, gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu khi xuất sang EU ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau một lộ trình ngắn.
Đây có thể coi là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong số các Hiệp định FTA đã được ký kết cho tới nay.
Do đó, Hiệp định EVFTA chắc chắn sẽ là cú huých xuất khẩu lớn đối với Việt Nam.
Các ngành dự kiến sẽ được hưởng lợi nhiều từ Hiệp định này đều là những ngành Việt Nam vốn có lợi thế cạnh tranh cao như giày, dép, mũ, hàng dệt may và nông thủy sản.
Tuy nhiên, dù các ngành được dự báo sẽ hưởng lợi tối đa nhưng cũng không hẳn là không phải đối mặt với thách thức bởi rào cản kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu từ phía EU rất chặt chẽ.
Vì vậy, để khai thác được tối đa lợi ích mà hiệp định này mang lại, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần chủ động nghiên cứu thông tin để có sự chuẩn bị tích cực.
Việc chuẩn bị nên được tiến hành toàn diện từ nghiên cứu các cam kết của Hiệp định, các cơ hội, thách thức của thị trường EU đến các giải pháp như nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm, phát huy lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu suất...
Đáng lưu ý, để tận dụng được ưu đãi từ Hiệp định, doanh nghiệp cần đảm bảo sản phẩm của mình đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn động thực vật của EU.
Nhiệm vụ này có sự phối hợp giữa cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp; trong đó Nhà nước đóng vai trò tạo lập cơ chế, sân chơi bình đẳng, minh bạch thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp.
Mặt khác, doanh nghiệp đóng vai trò then chốt và chủ động trong việc cải thiện công nghệ/kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường EU.
Ngoài ra, các doanh nghiệp phải vượt qua những rào cản về thuế quan không có nghĩa là hàng hóa và dịch vụ sẽ được chấp nhận bởi một thị trường đòi hỏi cao nhất thế giới như thị trường EU.
Là nền kinh tế có trình độ phát triển thấp so với các nước trong khu vực đã ký FTA với EU, Việt Nam sẽ có không ít thách thức phải đối mặt để hàng hóa, dịch vụ có thể đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của thị trường này.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận những thách thức này là con đường mà sớm hay muộn cũng phải đi qua để đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế.
Đây chính là điều kiện đủ để Việt Nam có thể tận dụng hiệu quả các cam kết từ Hiệp định này nói chung và trong lĩnh vực mở cửa thị trường hàng hóa nói riêng cũng như ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng !

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục