Xuất khẩu gạo đạt trên 3,1 tỷ USD, thị trường phân hóa

  • Bích Hồng - Trà My/vnanet.vn

BNEWS Xuất khẩu gạo Việt Nam 9 tháng giảm 10,9% về giá trị, trong bối cảnh nhu cầu quốc tế yếu và giá xuất khẩu giảm, song vẫn ghi nhận những điểm sáng khi xuất khẩu sang Trung Quốc và Iraq tăng mạnh.

Chế biến gạo xuất khẩu tại Công ty TNHH một thành viên Lương thực TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Đình Huệ-TTXVN

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, 9 tháng năm 2026, xuất khẩu gạo đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm lần lượt 6,1% về khối lượng và 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá gạo xuất khẩu bình quân đạt khoảng 484,8 USD/tấn, giảm 5,1% so với cùng kỳ. 

Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 40,9% thị phần. Trung Quốc và Ghana lần lượt đứng thứ hai và thứ ba, với thị phần 17,4% và 12,7%. 

So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gạo sang Philippines giảm 16,8%, trong khi thị trường Ghana giảm 1,1%. Ngược lại, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 76%. 

Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất, Iraq ghi nhận mức tăng trưởng đột biến, với giá trị xuất khẩu tăng 98,9 lần so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, Bờ Biển Ngà là thị trường giảm mạnh nhất, với mức giảm 52,8%. 

Trong nước, tại An Giang, giá lúa tuần qua tiếp tục duy trì sự ổn định. Lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.100-6.300 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg so với cuối tuần trước; OM 5451 vẫn có giá từ 6.000-6.100 đồng/kg; lúa IR 50404 ở mức 5.800-6.000 đồng/kg, OM 34 vẫn ở mức 5.700-5.900 đồng/kg. 

Đối với gạo nguyên liệu, CL 555 có giá 8.750 – 8.850 đồng/kg, tăng 50 đồng/kg; IR 50404 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg. Các dòng lúa chất lượng cao như: OM 5451 duy trì ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng neo ở mốc 7.500 - 7.600 đồng/kg. 

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.500 – 9.050 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.900 – 9.050 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.500 - 7.700 đồng/kg. 

Về giá xuất khẩu, gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 420-430 USD/tấn trong phiên 1/10, so với mức 430 USD/tấn một tuần trước đó. Một thương nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết dù nguồn cung trong nước thấp, nhu cầu từ bên ngoài vẫn yếu. 

Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ đã tăng lên mức cao nhất trong hơn một năm, nhờ nhu cầu cải thiện và lo ngại về sản lượng do mưa lũ tại các vùng trồng lúa sau một đợt khô hạn. 

Cụ thể, giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ được chào bán ở mức từ 378-384 USD/tấn trong tuần này, mức cao nhất kể từ tháng 7/2025, tăng so với mức từ 375-381 USD/tấn của tuần trước. Gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ được chào giá từ 377-382 USD/tấn. Một thương nhân tại Mumbai cho biết tình trạng mùa vụ đang xấu đi, chứ không cải thiện, khiến giá lúa tăng và thúc đẩy các nhà xuất khẩu phải nâng giá gạo.

Theo các quan chức trong ngành, sản lượng gạo của Ấn Độ dự kiến sẽ giảm trong năm nay, lần giảm đầu tiên trong một thập kỷ, với mức giảm lớn nhất trong gần 20 năm. Nguyên nhân là lượng mưa thấp hơn bình thường trong giai đoạn cây lúa phát triển có thể làm giảm năng suất. 

Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm giữ ở mức 460 USD/tấn, không đổi so với tuần trước. Một thương nhân cho biết nhu cầu vẫn ổn định, chủ yếu từ các khách hàng quen thuộc, và có xu hướng Philippines sẽ mua nhiều hơn, do nước này có thể hứng chịu thêm một số cơn bão. Về nguồn cung, khu vực Đông Bắc Thái Lan hiện đang vào mùa thu hoạch; thương nhân này cho biết mưa trong giai đoạn tháng 10 và tháng11 có thể gây thiệt hại cho một phần mùa vụ. 

Tại Bangladesh, nông dân cho biết giá gạo tại nước này vẫn duy trì ở mức cao và có thể tiếp tục tăng sau đợt tăng giá dầu gần đây. Nguyên nhân là chi phí nhiên liệu cao hơn làm tăng chi phí tưới tiêu, máy móc nông nghiệp và vận chuyển. Đà tăng của giá gạo có thể gây thêm áp lực lên người tiêu dùng, vốn đã phải đối mặt với lạm phát ở mức cao. 

Về thị trường cà phê, giá cà phê trong nước tuần qua chốt lại ở mức 93.400–94.000 đồng/kg, tăng 200–400 đồng/kg so với cuối tuần trước. Cụ thể, tại Lâm Đồng, giá cà phê hiện dao động từ 93.400-94.000 đồng/kg; tại Đắk Lắk và Gia Lai cùng ở mức 94.000 đồng/kg.

Tại Tây Nguyên, niên vụ cà phê mới đã bắt đầu thu hoạch, song số lượng chưa nhiều và cũng chưa cung ứng được ra thị trường ngay.

Trên thị trường cà phê thế giới, giá cà phê arabica chốt phiên tăng 0,5 xu (0,2%), lên 2,8875 USD/pound, tăng 3,6% tính chung cả tuần. Lo ngại về chất lượng do mưa lớn bất thường liên quan tới El Nino tại Brazil đã hỗ trợ giá cà phê arabica trong ngắn hạn.Thị trường cũng đang trong trạng thái bán quá mức về mặt kỹ thuật, sau đợt giảm sâu từ các mức đỉnh thiết lập cuối tháng 8. Giá cà phê robusta cũng tăng 0,6%, lên 3.469 USD/tấn. 

Tuy nhiên, về triển vọng của giá mặt hàng này, ngân hàng Rabobank của Hà Lan cho rằng giá sẽ tiếp tục giảm, với dự đoán nguồn cung cà phê sẽ gia tăng trên các sàn giao dịch vào tháng 11 và 12. 

Trên thị trường ca cao, giá ca cao tại New York chốt phiên tăng 289 USD (5,4%), lên 5.670 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp nhất trong 2 tháng là 5.051 USD/tấn trong phiên 1/10. Giá ca cao tại London tăng 5,1 bảng Anh, lên 4.239 bảng Anh/tấn.

Rabobank cho biết vẫn giữ quan điểm bi quan về giá ca cao, khi tỷ lệ tồn kho trên tiêu thụ của niên vụ 2025-2026 ước tính ở mức cao thứ hai kể từ niên vụ 2011-2012, và mức dư cung của niên vụ 2025-2026 đủ để bù đắp cho khả năng thiếu hụt của niên vụ 2026-2027. 

Thị trường nông sản Mỹ cho thấy, giá lúa mì giao dịch kỳ hạn trên Sàn giao dịch Hàng hóa Chicago (CBOT) gần như không đổi trong phiên 2/10, duy trì gần mức thấp nhất trong 6 tuần, khi một đợt đấu thầu nhập khẩu của Saudi Arabia đã cải thiện tâm lý về nhu cầu. 

Trong khi đó, giá ngô trên sàn CBOT giảm nhẹ, duy trì gần mức thấp nhất trong 6 tuần, khi ước tính tồn kho ngô cao hơn dự kiến của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) tiếp tục gây sức ép lên thị trường. Giá đậu tương trên sàn CBOT cũng giảm, do chịu sức ép từ vụ thu hoạch dự kiến đạt sản lượng lớn tại Mỹ, cùng dự báo thời tiết cải thiện tại khu vực trung tâm vùng Trung Tây nước Mỹ. 

Giới thương nhân đang tranh luận sôi nổi về quy mô vụ thu hoạch ngô và đậu tương mùa Thu năm nay của Mỹ, trong lúc chờ đợi báo cáo sản lượng mùa vụ tiếp theo của USDA cùng báo cáo Ước tính Cung và Cầu Nông nghiệp Thế giới (WASDE) hàng tháng, dự kiến công bố vào tuần tới. 

Ông Don Roose, Chủ tịch công ty US Commodities, đơn vị tư vấn đầu tư và quản lý rủi ro ngũ cốc, chăn nuôi có trụ sở tại bang Iowa cho biết giới thương nhân đang nóng lòng chờ dự báo cập nhật của chính phủ, vì mưa đầu mùa thu đã làm chậm vụ thu hoạch tại phần lớn khu vực Trung Tây. Theo ông, USDA đã đưa ra ước tính năng suất đậu tương cao trong tháng 9.

Điều thị trường lo ngại trước khi báo cáo mới công bố là cơ quan này sẽ còn nâng ước tính lên cao hơn nữa trong báo cáo tháng 10. Ông cũng cho biết cuộc tranh luận về năng suất vẫn đang tiếp diễn trong giới kinh doanh, đối với cả ngô lẫn đậu tương.

Mới đây, công ty môi giới hàng hóa StoneX đã hạ ước tính năng suất ngô trung bình của Mỹ cho năm 2026 và giảm dự báo sản lượng ngô, nhưng lại nâng ước tính năng suất và sản lượng đậu tương, so với báo cáo hàng tháng trước đó. 

Hợp đồng ngô được giao dịch nhiều nhất trên sàn CBOT chốt phiên giảm 4,5 xu, xuống 4,9775 USD/bushel, sau khi có thời điểm giảm xuống mức thấp nhất trong 6 tuần là 4,95 USD/bushel trong phiên 1/10. Giá đậu tương trên sàn CBOT chốt phiên giảm 5,75 xu, xuống 12,7825 USD/bushel, còn giá lúa mì trên sàn CBOT chốt phiên tăng 0,25 xu, lên 6,83 USD/bushel (1 bushel lúa mì/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg). 

Saudi Arabia ngày 1/10 thông báo đang tìm mua 535.000 tấn lúa mì, giao hàng trong tháng 11 và 12. Giới thương nhân xem đợt đấu thầu này là dấu hiệu cho thấy đà giảm giá gần đây đang khơi dậy nhu cầu mới, sau khi Saudi Arabia từng hủy đợt đấu thầu lúa mì trước đó vào ngày 7/9 do giá quá cao. Bên cạnh đó, việc thiếu tiến triển trong nỗ lực ngoại giao nhằm khôi phục hoạt động vận chuyển bình thường qua khu vực Biển Đen cũng hỗ trợ giá lúa mì.

Bích Hồng - Trà My/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục