BNEWS Bộ Công Thương đề nghị sửa tên Thông tư thành: “Thông tư quy định về giám sát hải quan đối với hàng hóa chuyển cửa khẩu trong trường hợp hàng hóa ùn tắc tại cảng biển”.
Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng đề xuất sửa đổi điều 1 thành: “Thông tư này quy định về giám sát hải quan đối với hàng hóa chuyển cửa khẩu trong trường hợp hàng hóa ùn tắc tại cảng biển”; bổ sung đối tượng là “Doanh nghiệp chủ hàng”.
Về cơ sở xác định hàng hóa ùn tắc tại cảng biển, Bộ Công Thương cho rằng, cơ sở xác định hàng hóa ùn tắc tại cảng biển là sản lượng hàng hóa tồn bãi đạt ngưỡng sức chứa thiết kế tối đa cho phép của cảng biển đã được doanh nghiệp kinh doanh cảng biển công bố. Mặt khác, có văn bản của doanh nghiệp kinh doanh cảng biển về việc sản lượng hàng tồn bãi đạt ngưỡng sức chứa thiết kế tối đa cho phép của cảng biển được Chi cục Hải quan quản lý kiểm tra, xác nhận đồng ý cho áp dụng thực hiện Thông tư này. Tại khoản 1 Điều 5 “Doanh nghiệp kinh doanh cảng biển nơi hàng hóa vận chuyển đi”, đề nghị sửa đổi, bổ sung điểm b thành: Chỉ thực hiện vận chuyển hàng hóa khi có sự chấp thuận của hãng tàu/đại lý hãng tàu hoặc chủ hàng đã xác lập quyền sở hữu hàng hóa với hãng tàu/đại lý hãng tàu và kế hoạch vận chuyển hàng hóa đã được Chi cục Hải quan nơi hàng hóa vận chuyển đi phê duyệt. Toàn bộ lô hàng, thuộc cùng một vận tải đơn, cùng thuộc một chủ hàng về cùng một cảng biển, cảng cạn, ICD để lưu giữ hàng hóa. Đồng thời, Bộ Công Thương đề nghị sửa đổi điểm c thành: “Có văn bản thông báo cho Chi cục Hải quan quản lý kiểm tra về việc sản lượng hàng hóa tồn bãi đạt ngưỡng sức chứa thiết kế tối đa cho phép của cảng biển và xác nhận đủ điều kiện áp dụng Thông tư này”. Cùng với đó, sửa đổi điểm e thành: “Trong thời hạn 5 ngày làm việc sau thời gian thực hiện việc vận chuyển hàng hóa cần chuyển cửa khẩu, báo cáo quyết toán tình hình thực hiện việc vận chuyển hàng hóa (theo mẫu số 2 ban hành kèm Thông tư này)”.Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng đề nghị cân nhắc bỏ nội dung quy định tại các điểm d, e, g tại khoản 1 Điều 5 bởi hướng dẫn tại điểm đ khoản 1 Điều 5 Thông tư này đã cơ bản đáp ứng đầy đủ nội hàm các quy định của điểm d, e, g. Việc báo cáo được thực hiện qua giao thức hải quan điện tử, sẽ giảm được các bước quy trình thực hiện cho các đơn vị liên quan và phù hợp với thực tiễn do khoảng cách về địa lý giữa điểm đi và điểm đến. Tại Điều 6 về trách nhiệm của hãng tàu/đại lý hãng tàu, Bộ Công Thương đề nghị bổ sung nội dung: “Trường hợp chủ hàng đã hoàn tất thủ tục nhận hàng, xác nhận quyền chủ sở hữu hàng hóa với hãng tàu/đại lý hãng tàu, thì chủ hàng và doanh nghiệp kinh doanh cảng biển sẽ quyết định địa điểm cảng, ICD vận chuyển hàng hóa đến, sau khi được cơ quan hải quan phê duyệt đủ điều kiện áp dụng thông tư này. Chi phí vận chuyển phát sinh do các bên tự thỏa thuận.”. Bộ Công Thương lý giải, theo thông lệ, hàng hóa chuyển cảng đích là trách nhiệm của hãng tàu với chủ hàng, nên việc vận chuyển về cảng đích do hãng tàu hoặc tổ chức được hãng tàu ủy quyền thực hiện, khi hàng hóa được vận chuyển đến cảng đích và chủ hàng hoàn tất thủ tục xác nhận quyền chủ sở hữu với hãng tàu, thì hãng tàu mới hết trách nhiệm trên hợp đồng vận chuyển. Theo quy định của Thông tư này, trường hợp chủ hàng hoàn tất thủ tục xác nhận quyền chủ sở hữu hàng hóa với hãng tàu, thì hãng tàu đã hết trách nhiệm, nên trách nhiệm thực hiện thủ tục hải quan và vận chuyển đến cảng, ICD để lưu giữ chờ thông quan theo Thông tư này sẽ do chủ hàng hoặc tổ chức được chủ hàng ủy quyền thực hiện. Do đó, đề nghị làm rõ và bổ sung hướng dẫn đối với trường hợp nêu trên, chủ hàng phải cung cấp thêm chứng từ là Lệnh Giao hàng của hãng tàu và Giấy ủy quyền cho tổ chức đại diện thực hiện thủ tục hải quan và vận chuyển, trong hồ sơ Đề nghị vận chuyển về cảng, ICD chờ làm thủ tục thông quan cho cơ quan hải quan xét duyệt mà không cần ý kiến của hãng tàu. Bộ Công Thương cũng đề nghị bỏ điểm b khoản 2 Điều 7 vì hàng hóa được vận chuyển bằng hình thức vận chuyển độc lập, nên khi hàng hóa đã tập kết đầy đủ tại điểm đến, cơ quan hải quan điểm đến xác nhận hàng hóa đã đến điểm đến bằng nghiệp vụ BIA trên hệ thống hải quan điện tử. Tại khoản 3 Điều 7, nhằm hỗ trợ việc vận chuyển nhanh, kịp thời xếp dỡ hàng hóa lên tàu, giải phóng hàng hóa và tàu nhanh chóng, đề nghị sửa đổi, bổ sung thành: “Đối với hàng hóa container xuất nhập khẩu, trung chuyển còn nguyên niêm phong của hãng vận chuyển thuộc đối tượng quy định tại Điều 50 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại điểm 3 khoản 28 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Bộ Tài chính, khi thực hiện theo hình thức vận chuyển độc lập giữa các cảng thuộc cùng khu vực giám sát của cùng chi cục Hải quan quản lý thì không thực hiện niêm phong hải quan”. Bởi theo Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Bộ Tài chính, hàng hóa khi thực hiện theo hình thức vận chuyển độc lập giữa các cảng thuộc cùng khu vực giám sát của cùng chi cục Hải quan quản lý vẫn phải niêm phong hải quan trước khi vận chuyển. Tại Điều 8 “Hiệu lực thị hành, Bộ Công Thương đề nghị làm rõ nội dung tại khoản 2. Đồng thời đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 3 thành: “Trong quá trình thực hiện, trường hợp gặp khó khăn, vướng mắc có liên quan, cơ quan hải quan, người khai hải quan và các đơn vị tổ chức có liên quan báo cáo phản ánh cụ thể về Bộ Tài chính để được xem xét, giải quyết”. Ngoài ra, tại mục 3 Phụ lục 1, ở cột “Biển kiểm soát phương tiện vận tải vận chuyển hàng hóa”, đề nghị chỉ thể hiện loại hình vận chuyển là thủy hay bộ. Theo Bộ Công Thương, trong hoạt động vận tải chỉ có thể biết chính xác tên phương tiện, biển kiểm soát phương tiện vận chuyển sau khi cơ quan hải quan phê duyệt hàng hóa đủ điều kiện vận chuyển và trong quá trình xếp, dỡ hàng hóa lên phương tiện sẽ có những phát sinh liên quan đến kỹ thuật vận hành của phương tiện nên có sự thay đổi. Do đó, Bộ Công Thương đề nghị chỉ thực hiện giám sát theo tuyến đường, thời gian vận chuyển và kẹp chì hải quan, hãng vận chuyển./.Tin liên quan
Ấn Độ tăng nhập khẩu cao su từ thị trường Việt Nam
Tính đến hết tháng 9, Việt Nam là thị trường lớn thứ 4 cung cấp cao su cho Ấn Độ với 69,14 nghìn tấn, trị giá 132 triệu USD, tăng 46,5% về lượng và tăng 92,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.
Tin cùng chuyên mục
-
DN cần biếtLào Cai thành lập Cụm công nghiệp Yên Hợp 2 quy mô 75 ha, vốn hơn 625 tỷ đồng
UBND tỉnh Lào Cai vừa quyết định thành lập Cụm công nghiệp Yên Hợp 2 rộng 75 ha tại xã Xuân Ái với tổng vốn đầu tư hạ tầng hơn 625,2 tỷ đồng.
-
DN cần biếtKhởi động Đề án "Lắng nghe để Kiến tạo"
Đề án “Lắng nghe để Kiến tạo” hướng tới xây dựng cơ chế phân tích, phản biện chính sách dựa trên thực tiễn doanh nghiệp, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế.
-
DN cần biếtAustralia xem xét gia hạn chống bán phá giá thép mạ kẽm Việt Nam
Australia xem xét gia hạn biện pháp chống bán phá giá với thép mạ kẽm Việt Nam cùng Ấn Độ và Malaysia.
-
DN cần biếtSắp diễn ra chuỗi hội nghị du lịch toàn quốc tại Quảng Ninh
Chuỗi Hội nghị Du lịch toàn quốc 2026 tại Quảng Ninh, quy tụ lãnh đạo bộ ngành và gần 100 doanh nghiệp lữ hành nhằm định hình chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2027 – 2030.
-
DN cần biếtKhai thác thị trường Halal với bước chuyển từ xuất thô sang chế biến sâu
Thị trường Halal mở ra cơ hội mới cho hàng Việt nhưng doanh nghiệp cần tháo gỡ điểm nghẽn về tiêu chuẩn, chứng nhận, chuỗi cung ứng và thông tin thị trường.
-
DN cần biếtBộ Công Thương điều chỉnh Quy hoạch điện VIII tỉnh Điện Biên
Bộ Công Thương vừa ban hành quyết định điều chỉnh, cập nhật Quy hoạch điện VIII trên địa bàn tỉnh Điện Biên, bảo đảm đồng bộ hạ tầng và an ninh năng lượng.
-
DN cần biếtKết nối gần 400 doanh nghiệp Hải Phòng tại các tỉnh phía Nam
Nghị quyết 57 xác định doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực chính; đồng thời đặt yêu cầu thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho chuyển đổi số.
-
DN cần biếtKhánh thành Khu công nghiệp Trần Đề gần 1.230 tỉ đồng
Việc Khu công nghiệp Trần Đề hoàn thiện hạ tầng và chính thức bước vào giai đoạn phát triển mới mang ý nghĩa thiết thực đối với thành phố Cần Thơ.
-
DN cần biếtGiảm chi phí logistics để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu
Bộ Công Thương đề xuất các giải pháp đo lường, tối ưu vận tải, số hóa thủ tục và tăng kết nối đa phương thức nhằm giảm chi phí logistics, nâng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu Việt Nam.









